December 20 2012

Giới thiệu làng chiếu Hới – Thái Bình

Từ xa xưa chiếu Hới (xã Tân Lễ-huyện Hưng Hà) đã nổi tiếng trong và ngoài tỉnh với những lá chiếu bóng bẩy mượt mà. Ngày nay, cơ chế thị trường mở ra, mặc dù phải cạnh tranh với nhiều loại chiếu, nhất là chiếu trúc của Trung Quốc song chiếu Hới vẫn đững vững và phát triển nhờ sự năng động của làng nghề, sản phẩm hàng hoá được đa dạng về mẫu mã, giá cả, những doanh nghiệp, tổ hợp sản xuất mang tính ‘chuyên nghiệp’ thành lập ngày một nhiều. Nghề dệt chiếu đang là hướng làm giàu của nhiều hộ gia đình nơi đây.

 

NÉT ĐẸP LÀNG CHIẾU

Vừa đến đầu làng cảnh tượng đầu tiên chúng tôi gặp những xe trở hàng ra vào tất bật, mùi cói thơm nồng được phơi khắp ngoài sân, ven đường. Tân Lễ đang từng ngày thay da đổi thịt, đường thôn, ngõ xóm phong quang, sạch đẹp, những ngôi nhà cao tầng đang mọc lên san sát, thu nhập bình quân đầu người đạt hn 5 triệu đồng/ người/ năm, người dân trong xã không còn phải tất bật lo toan về miếng cơm manh áo hàng ngày. Có được cuộc sống sung túc như ngày nay là do người dân Tân Lễ đã biết kết hợp lao động nông nghiệp với làm nghề thủ công truyền thống.

Theo những người cao tuổi trong làng kể lại, nghề dệt chiếu Hới có từ thời Tiền Lê (thế kỷ X-XI), rồi phát triển mạnh vào thời Hậu Lê (thế kỷ XV). Nghề dệt chiếu Hới thịnh đạt lúc bấy giờ là nhờ công lao của Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ – Ông người làng Hải Triều, huyện Ngự Thiêm, phủ Tân Hưng (nay là huyện Hưng Hà). Ông thi đỗ Trạng nguyên khoa thi Tân Sửu, niêu hiệu Hồng Đức năm thứ 12 làm quan tới chức Thượng thư. Khi ông lớn lên, làng Hới đã có nghề dệt chiếu từ lâu. Nhưng chiếu dệt khung đứng, không có ngựa đỡ sợi nên chiếu không đẹp. Đi sứ sang Trung Quốc, khi qua vùng Ngọc Hà, Châu Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây, Phạm Đôn Lễ đã tìm hiểu và học được bí quyết kỹ thuật dệt chiếu của người Trung Quốc. Đó là kỹ thuật dệt khung nằm, có ngựa đỡ sợi dọc, làm cho sợi đay căng, chao cói nhanh hơn và chiếu đẹp hơn. Ông đã phổ biến kinh nghiệm và kỹ thuật dệt mới cho nhân dân. Ông cho cải tiến khung dệt. Nhờ vậy, chiếu Hới đẹp hơn và nổi tiếng từ đó. Dân làng tôn ông là ông Tổ nghề dệt chiếu, gọi ông là ‘Trạng Chiếu’ và lập đền thờ sau khi ông mất; đền thờ Phạm Trạng Nguyên.

Thời đó sản phẩm chiếu dệt thủ công của làng Hới là niềm tự hào của người dân nơi đây, với câu phương ngôn: ‘Ăn cơm hom, nằm giường hòm, đắp chiếu Hới’. Bởi chiếu Hới không chỉ đẹp, bền mà còn có thể dùng đắp thay chăn, vào mùa đông. Nhưng cũng khác với nhiều làng nghề Việt Nam, ở Hới chưa có gia đình nào thoát ly hẳn sản xuất nông nghiệp. Người ta vừa dệt chiếu vừa làm nông nghiệp.

 

LÀNG DỆT CHIẾU THỜI CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

Bước vào thời kỳ cơ chế thị trường nhiều người lo ngại nghề dệt chiếu Tân Lễ sẽ mai một như làng nghề đúc đồng An Lộng (huyện Quỳnh Phụ) song chiếu Hới vẫn đứng vững và ngày một khẳng định thương hiệu của mình. Sản phẩm làm ra được xuất đi khắp các tỉnh trong cả nước. Sản xuất mang tính chuyên nghiệp hơn. Nhiều doanh nghiệp được thành lập chuyên đứng ra thu mua nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm cho người dân, chợ chiếu được xây dựng và hoạt động vào các ngày mồng 3, 8, 13, 18, 23, 28 âm lịch hàng tháng. Từ chợ chiếu các lái buôn gom hàng lại và đưa các nới tiêu thụ.

Theo thống kê, nghề dệt chiếu Tân Lễ hàng năm tiêu thụ hơn 8.000 tấn cói và hàng trăm tấn đay. Thế nhưng hiện nay các vùng trống cói xung quanh đã bỏ nghề, thành thử cói phải chở từ trong Nam ra. Làng hiện có 6 đại lý lớn bao trọn việc cung cấp nguyên liệu và thu mua sản phẩm cho cả làng. Số chiếu tiêu thụ trực tiếp tại địa phương không đáng là bao. Phần lớn chiếu được các đại lý thu gom, phân phối đi khắp các vùng trong cả nước.

Công đoạn in chiếu

 

Hiện nay, nghề dệt chiếu ở làng Hới đã phát triển ra toàn xã và nhiều xã trong vùng. Ông Trần Trọng Hán- Chủ tịch UBND xã Tân Lễ cho biết: Xã Tân Lễ có 3.105 hộ, thì có tới trên 95% hộ làm nghề dệt chiếu, một năm dệt được khoảng 4 triệu chiếc chiếu, doanh thu gần 36 tỷ đồng. Chiếu Tân Lễ có mặt ở hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước. Tiền công dệt một chiếc chiếu trung bình 2.000 đến 3.000 đồng. Một lao động mỗi ngày dệt được khoảng 5 -6 chiếc.

Hiện chiếu Hới có rất nhiều loại: chiếu cài hoa, chiếu đậu, chiếu dặm, chiếu cạp điều, chiếu đót, chiếu sợi xe… với nhiều kích cỡ khác nhau. Ông Hà Đắc Đĩnh- một hộ dệt chiếu có tiếng của xã cho biết: ‘Một số loại chiếu đặc biệt, chúng tôi chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng. Chẳng hạn, chiếu đậu, chiếu sợi xe dệt dày, tẩy trắng, đay vê săn chắc, nằm mát về mùa hè, ấm về mùa đông. Một chiếc chiếu đậu có thể nặng tới 10kg. Chiếu cói hoa được dệt theo hình những bông hoa nhỏ li ti, đan lại rất tinh xảo lại in thêm hình rồng, phượng… Xưa, chiếu này được đem vào cung tiến vua. Giá của hai loại chiếu nói trên khá cao, từ 80.000đ đến 180.000đ/chiếc. Dệt một chiếc chiếu như vậy cần tới hai lao động làm việc miệt mài cả tuần lễ’.

Nghề chiếu Tân Lễ  ít thải ra những chất gây ô nhiễm môi trường. Chỉ có 10 hộ trong làng làm việc nhuộm, in chiếu có dùng đến hóa chất song họ đều xử lý chất thi một cách nghiêm túc, vì vậy làng nghề Tân Lễ tránh được sự ô nhiễm mà nhiều làng nghề khác mắc phải.

Chiếu Hới bây giờ vẫn được ưa chuộng ở nhiều nơi. Ông Trần Nho Đề – Chủ nhiệm HTX Tân Lễ cho biết, hiện xã đang tìm kiếm mở rộng thị trường ra quốc tế. Vừa qua, đã có một vài doanh nghiệp xuất được một vài lô hàng sang Trung Quốc, mở ra hướng phát triển mới cho làng nghề./.

nguồn: báo Thái Bình

1,096 total views, no views today

May 16 2012

Giới thiệu về xã Tân Lễ huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình

Tân Lễ là xã cực Tây Bắc của huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình Việt Nam.

Vị trí

cầu Triều Dương

Tân Lễ nằm ở ngã ba sông Luộc và sông Hồng (tên gọi cổ của ngã ba này là cửa Tuần Vườn), giáp ranh với tỉnh Hưng Yên (ranh giới là sông Luộc) và Hà Nam (ranh giới là sông Hồng), là xã đầu tỉnh ở phía tây bắc của tỉnh Thái Bình. Phía Nam và Đông Nam Tân Lễ giáp xã Phú Sơn (tức là thị trấn Hưng Nhân hiện nay), phía Đông là xã Canh Tân, là các xã cùng huyện. Phía Bắc giáp các xã Đức Thắng, Hải Triều, Thiện Phiến của huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên, phía Tây Bắc và Tây là các xã Thủ Sĩ, Tân Hưng của huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên. Phía Tây Nam, Tân Lễ giáp xã Chân Lý huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam. Tân Lễ có quốc lộ 39 chạy ngang qua, với Cầu Triều Dương bắc qua sông Luộc nối Thái Bình với Hưng Yên.

Vào cuối thế kỷ 19, phần đất xã Tân Lễ ngày nay, là các làng (thời đó gọi là xã) Hải Triều (tên nôm là Hới), Thanh Triều, Hà Xá (nay là thôn Tân Hà),… thuộc tổng Thanh Triều huyện Hưng Nhân phủ Tiên Hưng trấn Sơn Nam Hạ.

Địa điểm trên google Map

Lịch sử tên gọi

Căn cứ vào quyết định số 214-CP ngày 21-11-1970 của Hội đồng Chính phủ ủy nhiệm cho Phủ thủ tướng phê chuẩn việc phân vạch địa giới có liên quan đến các đơn vị hành chính xã và thị trấn.

Ngày 23 tháng 2 năm 1977, hợp nhất 2 xã Phạm Lễ và xã Tân Mỹ thành xã Tân Lễ, tên Tân Lễ được ghép từ chữ Tân (trong từ Tân Mỹ) và Lễ (trong từ Phạm Lễ).

Lễ hội

Hội làng Hới (Hội chiếu): Hàng năm, ngày 06/01 âm lịch tại đình làng Hới (thờ trạng nguyên Phạm Đôn Lễ), diễn ra lễ hội

Đền thờ Phạm Đôn Lễ

Làng Hới, lịch sử ghi chép rằng Khi “Trạng chiếu” mất, người dân lập đền thờ gọi là đền Quan Trạng, quanh năm hương khói. Lễ hội tưởng nhớ đến công ơn của Quan Trạng, tương truyền đó là ngày Phạm Đôn Lễ mất. Trong lễ hội, ngoài phần lễ nghi, người ta còn tổ chức hội thi dệt chiếu rất sôi nổi thu hút dân trong vùng và khách thập phương đến tham dự. ngoài ra còn có thêm nhiều các trò chơi dân gian như leo cây chuối, đi cầu kiều, bắt vịt dưới ao và xem trèo thuyền, xem các màn rước lễ từ các thôn trong xã đến….

Lễ hội làng Hới bắt đầu bằng nghi thức rước kiệu “Trạng chiếu”. Từ sáng sớm ban khánh tiết và những người có trách nhiệm đã tề tựu đông đủ để làm lễ rước. Đám rước diễn ra rất long trọng với đầy đủ cờ xí, chấp kích, bát bửu, chiêng trống, kiệu thánh, dàn bát âm… Dân làng theo đám rước rất đông. Lễ rước thể hiện lòng biết ơn của dân làng đối với “ông tổ nghề” cũng như lòng yêu mến đối với người con hiếu thảo của quê hương.

Hội làng Phú Hà: hàng năm tại đền Phú Hà nhân dân tổ chức lễ hội từ ngày 10/3 đến 15/3 âm lịch. Đây là dịp giỗ tổ Hùng Vương, nhân dân mở hội để tưởng nhớ tổ tiên mình, vừa để ghi nhớ người có công với dân làng.

Về sau do điều kiện kinh tế cũng để phù hợp với đời sống mới, mỗi năm nhân dân Phú Hà chỉ tổ chức lễ hội vào một ngày 10/3 với nghi thức chính là lễ rước nước.

Phần lễ: Trước đây vào ngày này dân làng dùng lễ Tam sinh, ngày nay lễ vật thờ được đơn giản thuận tiện gồm: xôi, rượu, thịt gà, thịt lợn, hoa quả, tiền vàng, hương nến. Khi lễ vật đã được chuẩn bị xong có một đội tế lễ vào bái thần, xin phép thánh mẫu, các vị tôn ông cùng các vị thần cho nhân dân được rước kiệu. chĩnh nước ngã ba Sông Luộc lấy nước mới về thờ (được gọi là nghi lễ rước nước). Tiếp đó các dòng họ trong làng cùng con cháu làm lễ dâng hương vào đền. Khi dâng hương xong, ban quản lý đền tập trung toàn bộ dân làng để bắt đầu nghi thức ra sông lấy nước. Đi đầu là đội múa lân, cờ quạt, võng lọng, tiếp là đội khiêng khám thờ. Làng cử những người đàn ông có uy tín để mặc áo quan tay vái đi trước khám thờ, đi kiểu ngược lùi cùng đội khiêng khám ra sông. Có một cô đầu cùng đội khiêng bàn có chĩnh nước cũ lấy từ năm ngoái đi theo đội khiêng khám ra sông. Cuối là đội cầm bát bửu, chấp kích cùng toàn thể dân làng. Ra tới ngã ba sông có hai chiếc thuyền rồng chờ sẵn ở đó. Đội khiêng khám xuống một thuyền, cô đầu với đội khiêng chĩnh nước xuống một thuyền. Tất cả đi ra giữa sông thì đốt hương khấn vái, xin phép thần sông cho lấy nước mới vào chĩnh. Lấy xong phân phát lộc rải ngay trên sông. Xong thì các thuyền lại quay về đền đưa chĩnh nước mới vào thờ. Nhân dân rước nước mới vào đền thờ, cầu xin thần phù hộ cho dân làng năm mới an lành, mùa màng bộ thu.

Phần hội: Khi nghi thức rước nước đã xong, nhân dân lại tập trung ở đền, cùng nhau tổ chức, vui chơi các trò chơi dân gian tại đền như: Đi cầu kiều,chọi gà, chơi cờ, kéo co, múa kỳ lân sư tử… Buổi chiều đó thì nhân dân cùng nhau khiêng khám thờ, bát bửu, chấp kích, võng lọng đi quanh làng. Đi tới đâu đội múa kỳ lân, võng lọng trống vang lừng tới đó. Nhân dân theo sau ai cũng vui mừng hớn hở. Ngày này mọi người trong làng đều ra đền dâng hương, cầu xin thánh mẫu phù hộ mọi điều may mắn cho con cháu.

Làng nghề và danh nhân

Cuộc thi dệt chiếu, sân chơi Văn Hóa Làng

 Làng Hải Triều (tức làng Hới) là một làng nghề truyền thống nổi tiếng với nghề làm chiếu Hới. Chiếu Hới còn gọi là chiếu Hưng Nhân theo tên huyện cũ, là chiếu Hưng Hà theo tên huyện mới. sản phẩm chiếu dệt thủ công của làng Hới từ lâu đã trở thành một sản phẩm tiêu biểu không chỉ của một địa phương nhỏ, mà của cả một tỉnh nông nghiệp loại lớn nhất ở đồng bằng Bắc Bộ và lưu vực sông Hồng. Nghề dệt chiếu Hới thịnh đạt lúc bấy giờ là nhờ công lao của Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ. Khi ông lớn lên, làng Hới đã có nghề dệt chiếu từ lâu. Nhưng chiếu dệt khung đứng, không có ngựa đỡ sợi nên chiếu không đẹp. Đi sứ sang Trung Quốc, khi qua vùng Ngọc Hà, Châu Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây, Phạm Đôn Lễ đã tìm hiểu và học được bí quyết kỹ thuật dệt chiếu của người Trung Quốc. Đó là kỹ thuật dệt khung nằm, có ngựa đỡ sợi dọc, làm cho sợi đay căng, chao cói nhanh hơn và chiếu đẹp hơn. Ông đã phổ biến kinh nghiệm và kỹ thuật dệt mới cho nhân dân.

Hiện nay Chiếu Hới có nhiều loại: chiếu cài hoa, chiếu trơn, chiếu cạp điều, chiếu đót…, nhưng chiếu gon là loại chiếu đặc biệt nhất. Qua thống kê năm 2008, toàn xã có 23 ngành nghề, tổng thu nhập ngành nghề và dịch vụ là 145.550,6 triệu. Trong đó công nghiệp là 106.748 triệu, dịch vụ đạt 38.802,6 triệu. Toàn xã có 10/14 thôn đã được Chủ tịch UBND tỉnh cấp bằng công nhận làng nghề. Tác động của làng nghề đến sự phát triển kinh tế của địa phương là rất lớn, giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động trong lúc nông nhàn. Lao động trong khu vực dân cư được sắp xếp theo quy trình khép kín từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ. Đã xuất hiện các mô hình hộ gia đình đầu tư vốn vào miền Nam mua cói ra kinh doanh bán cho các hộ chuyên dệt chiếu. Hiện toàn xã có 62 hộ lắp đặt gần 100 máy dệt chiếu, mỗi năm đưa ra thị trường tiêu thụ từ 38 – 42 triệu lá chiếu.

 tượng lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ tại Hải Triều

Hải Triều là quê hương của những danh nhân Nguyễn Thị Lộ (vợ Nguyễn Trãi, nên duyên với Nguyễn Trãi nhờ đi bán chiếu tại Thăng Long) và trạng nguyên Phạm Đôn Lễ (Trạng Chiếu).

 

Danh sách các thôn trong xã:

Thanh Triều, Hải Triều, Bùi Xá, Quan Khê, Lão Khê, Xuân Hải, Hà Xá, Hà Tân, Tân Hà, Phú Hà, An Tập, Tân Ấp.


 

Bài này do mình đóng góp thêm trên Wikipedia. có gì sai sót các bạn có thể vào đây để sửa hoặc bình luận dưới cho mình sửa. cám ơn các bạn.

756 total views, no views today

May 2 2012

Những danh nhân ở Hưng Hà

Bát Nàn Tướng Quân (Vũ Thị Thục) (Đinh Sửu 17 – Quí Mão 43)
Theo truyền thuyết và thần tích làng Tiên La, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình, cùng thần tích thờ miếu ở xã Phượng Lâu, huyện Phù Ninh, nay thuộc Vĩnh Phú (thần tích do danh thần thời hậu lê là Hàn Lâm đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn): Bát Nạn công chúa là vị anh hùng như thời Trưng Vương, Bà Vốn là con của Võ Công Chất và Hoàng Thị Mầu. Thân phụ bà là hào trưởng ở Phượng Lâu khi bà chào đời cha mẹ đặt tên là thục. Về sau bà nổi tiếng tài sắc, tục gọi là Thục nương. Bà có chồng là Phạm Danh Hương (có sách chép là vị Lạc hầu Trương Quán) quê ở Đức Bác (tức Liệp Trang, huyện Lập Thạch). Vợ chồng bà đều có lòng yêu nước, ngầm lo việc cứu nước giúp dân.
Bấy giờ có tên hào mục là Trần căm tức vì không cưới được Thục nương có ý “làm phản”, nên bắt giết đi.
Năm Kỉ Hợi 39, khi Đặng Thi Sánh bị giết ở Châu Diên, thì chồng bà cũng bị giết ở Duyên Hà. Quân Tô Định vây dinh trại, chồng bà bị hại, nửa đêm bà cầm dao sông đao, mở đường máu chạy đến làng Tiên La, vào chùa ẩn thân. Từ ấy, nặng nợ nước thù nhà bà quyết chí báo phục, đêm ngày chiêu tập hào kiệt dựng cờ khởi nghĩa. Năm Canh tí 40, tháng 3, Hai Bà Trưng lãnh đạo quân dân toàn quận phát động cuộc khởi nghĩa. Bà theo giúp cùng với nữ tướng Lê Chân thống lãnh quân tiên phong. Cứu quốc thành công, nước nhà độc lập, Trưng vương phong bà làm Bát Nạn đại tướng quân Trinh thục công chúa. Bà từ chối tước lộc, chỉ xin đem đầu giặc tế chồng một tuần. Tế xong, bà cởi bỏ nhung trang trở lại chùa làng Tiên La. Nhưng chẳng bao lâu nghe tin Mã Viện kéo binh sang, bà dấn chân cứu nước lần nữa. Chị em Trưng vương tuẫn quốc trong ngày 6 tháng 2, bà cũng tử tiết trong ngày 16 tháng 3 năm Quí mão 43.

TRẦN THỦ ĐỘ.
Trần Thủ Độ (1194-1264), là thái sư đầu triều nhà Trần, người có công sáng lập và là người thực tế nắm quyền lãnh đạo đất nước những năm đầu triều Trần, khoảng gần 40 năm, từ 1226 đến 1264. Trần Thủ Độ sinh tại làng Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, Việt Nam. Đánh giá về Trần Thủ Độ, có nhiều luồng dư luận trái chiều, ông là người có công sáng lập nhà Trần, ý kiến khác lại cho rằng ông là người đáng chê trách khi giết hại vua nhà Lý.

TRẦN THỊ DUNG – NỮ TƯỚNG HẬU CẦN ĐỜI NHÀ TRẦN.
Trần Thị Dung (?-1259) tên tục là Trần Thị Ngừ, con gái Trần Lý, là dòng họ có thế lực ở vùng đất Lưu Gia, Hải Ấp lúc bấy giờ (nay là xã Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).
Là hoàng hậu cuối cùng của nhà Lý, vợ vua Lý Huệ Tông, mẹ nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Việt Nam là Lý Chiêu Hoàng.
Sau khi Lý Huệ Tông mất, bà trở thành vợ thái sư Trần Thủ Độ.

AN SINH VƯƠNG TRẦN LIỄU.
Trần Liễu (1211-1251) là anh của Trần Thái Tông (vua đầu tiên của nhà Trần, Việt Nam) và là CHA của anh hùng dân tộc Việt Nam, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Ông sinh năm Canh Ngọ, niên hiệu Trị Bình Long Ứng thứ 6 (1210) tại phủ đệ Tinh Cương, phủ Long Hưng (Nay là xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình)
Tháng 8 âm lịch năm 1228, ông được em trai là vua Trần Thái Tông cho làm thái úy. Đến tháng 8 âm lịch năm 1234 làm phụ chính cho vua.

HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG – TRẦN QUỐC TUẤN.
Trần Hưng Đạo (1232 – 1300), còn được gọi là Hưng Đạo Vương, tên thật là Trần Quốc Tuấn là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất, và là nhà văn Việt Nam thời Trần.
Trần Hưng Đạo là con trai của An Sinh vương Trần Liễu, gọi vua Trần Thái Tông bằng chú ruột, và Công chúa Thụy Bà (chị ruột của vua Trần Thái Tông, và là cô ruột Trần Quốc Tuấn) là mẹ nuôi của ông. Nguyên quán ông ở xã Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình.
Ông là người có “dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người”, và nhờ “được những người tài giỏi đến giảng dạy” mà ông sớm trở thành người “đọc thông hiểu rộng, có tài văn võ”
Vì nước, quên thù nhà.
Không tham chức, biết gạt bỏ hiềm khích riêng.
Khéo tiến cử người tài giỏi, kính cẩn giữ tiết làm tôi.
Bị chọc vào đầu đến chảy máu, sắc mặt vẫn không thay đổi.

NGUYỄN THỊ LỘ – LỄ NGHI HỌC SĨ.
Nguyễn Thị Lộ (sinh 1400 hoặc 1390 – mất 1442), là vợ thứ của Nguyễn Trãi và là một nữ quan nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Tên tuổi bà từ lâu đã gắn liền với vụ thảm án Lệ Chi Viên xảy ra vào năm Nhâm Tuất (1442), dẫn đến cái chết của vợ chồng bà và cái án tru di tam tộc cho dòng họ.
Quê làng Hải Triều (còn gọi là Hải Hồ) tục gọi làng Hới, tổng Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tân Hưng (nay thuộc xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà).

PHẠM ĐÔN LỄ – ÔNG TỔ NGHỀ DỆT CHIẾU.
Phạm Đôn Lễ (1457 – ?), tự là Lư Khanh, quê làng Hải Triều (làng Hới) huyện Hưng Nhân (nay là xã Tân Lễ huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình), đỗ Trạng nguyên (Tam nguyên) khoa Tân Mùi (1481), niên hiệu Hồng Đức 12, đời vua Lê Thánh Tông, còn gọi là Trạng Chiếu hay Tam nguyên Đôn Lễ.
Ông đã đem các kỹ thuật dệt chiếu tiên tiến mà ông học được ở Quế Lâm tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, về truyền bá cho dân làng Hải Triều và dân các làng miền duyên hải trấn Sơn Nam Hạ.

LÊ QUÝ ĐÔN.
Lê Quý Đôn (1726 – 1784), tên thật Lê Danh Phương, là quan thời Lê trung hưng – chúa Trịnh, ông đồng thời cũng là một nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực.
Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ, niên hiệu Bảo Thái (Lê Dụ Tông) thứ 7 (tức 2 tháng 8 năm 1726), quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Đồng Phú, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và mất ngày 14 tháng 4 năm Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45 (tức 11 tháng 6 năm 1784).

NGUYỄN VĂN CẨM.
Kỳ Đồng tên thật là Nguyễn Văn Cẩm (1875 – 1929), người làng Trung Lập (theo cuốn Danh nhân Thái Bình thì quê ông là làng Ngọc Đình), phủ Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên, nay là xã Văn Cẩm huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình.
Ông vốn có tư chất thông minh từ nhỏ lại được cha, là nhà nho giỏi, dạy dỗ. Ông được chính phủ Pháp cấp học bổng sang học Trường trung học Alger, tốt nghiệp tú tài khoa học và văn chương. Ông có lẽ là Người Việt đầu tiên đỗ tú tài Pháp.
Kỳ Đồng có nghĩa là (Đứa trẻ kỳ tài) là tên gọi được vua Tự Đức sắc phong cho cùng với sớ “Tên này còn ít tuổi, chưa thể dùng được, nay giao tỉnh thần Hưng Yên dạy bảo, để khi lớn lên, nhà nước sẽ dùng.”

—-
Nguồn: Sưu tầm

533 total views, no views today

March 12 2012

HƯNG HÀ THÁI BÌNH – MIỀN QUÊ HUYỀN THOẠI

Video giới thiệu về các danh lam thắng cảnh của Miền Quê Huyền Thoại – Hưng Hà – Thái Bình.
Nguồn: Đài phát thanh truyền hình Huyện Hưng Hà


Giới thiệu chung

Hungha.gov.vn

Giới thiệu chung

Huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình được thành lập từ 1969 trên cơ sở sáp nhập 2 huyện Duyên Hà – Hưng Nhân và 5 xã của huyện Tiên Hưng cũ. Huyện nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Thái Bình, cách Thành phố Thái Bình khoảng 27 km. Toạ độ địa lý nằm trong khoảng 20o30’37’ đến 20o40’37’ vĩ độ Bắc và từ 106o06’00’ đến 106o19’22’ kinh độ Đông. Phía Bắc tiếp giáp huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam, phía Nam giáp huyện Vũ Thư, phía Đông giáp huyện Quỳnh Phụ và Đông Hưng. Tổng diện tích đất tự nhiên là 20.041,9 ha, dân số là 252.891 người được phân bố ở 33 xã và 2 thị trấn.

Hưng Hà là vùng đất cổ của tỉnh Thái Bình, năm 2000 tại xã Minh Tân đã tìm thấy 2 trống đồng loại lớn thuộc nền văn hoá Đông Sơn, các nhà khoa học đã khẳng định  trống đồng này đã có cách đây trên 2500 năm và được chế tác bởi cư dân nơi đây. Ngoài ra  các nhà khảo cổ còn tìm thấy các ngôi mộ Hán được chôn cất rải rác ở trong huyện, điều đó khẳng định rằng nơi đây có dân cư sinh sống khoảng trên 2500 năm trước.

Trong suốt chiều dài lịch sử trên vùng đất “địa linh nhân kiệt” này đã sinh ra những danh nhân, danh tướng làm rạng danh quê hương, đất nước. Từ những năm 40 của thể kỷ thứ nhất, Đông Nhung Đại Tướng Vũ Thị Thục đã về vùng Đa Cương Hương nay là xã Đoan Hùng và xã Tân Tiến chiêu tập binh mã dựng cờ khởi nghĩa cùng Bà Trưng đánh đuổi quân Đông Hán giành lại độc lập cho dân tộc. Vào thế kỷ thứ 13  con cháu họ Trần đã mang phần mộ cụ tổ về an táng tại Tam Đường xã Tiến Đức và từ mảnh đất này khởi nghiệp tạo dựng lên vương triều Trần với 3 lần chiến thắng quân Nguyên Mông. Nơi đây 4 đời Vua, các Hoàng hậu,  Công chúa đầu triều Trần đã yên nghỉ, nên Tam Đường chính là nơi Tôn miếu của nhà Trần. Trong mỗi lần xuất quân hay chiến thắng trở về, Vua tôi nhà Trần đều về đây làm lễ tế tổ. Vùng đất Hưng Hà còn là nơi sinh ra nhiều danh nhân, tuấn kiệt, tiêu biểu là: Thái Sư Trần Thủ Độ, Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung  –  những người có công tạo dựng và đưa nhà Trần phát triển rực rỡ trở thành một trong những vương triều cường thịnh bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Đó là Tam nguyên Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ, Lễ nghi học sỹ Nguyễn Thị Lộ ở xã Tân Lễ, Tiến sỹ Nhà văn hoá Nguyễn Tông Quai ở xã Hoà Tiến; Tam nguyên bảng nhãn Lê Quý Đôn – Nhà bác học lỗi lạc nhất của Việt Nam  thế kỷ 18 ở làng Phú Hiếu xã Độc Lập. Đó là những thủ lĩnh yêu nước trong phong trào chống Pháp như: Đốc Nhưỡng, Bang Tốn, Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm. Cũng chính nơi đây năm 1929 chi bộ Thần Duyên – một trong những chi bộ đầu tiên của tỉnh Thái Bình được thành lập đã lãnh đạo phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Những truyền thống tốt đẹp, những người con ưu tú của quê hương đã tạo nên Hưng Hà là vùng “địa linh”. Hiện nay toàn huyện còn lưu giữ được 552 di tích chiếm trên 1/4 tổng số di tích của toàn tỉnh, trong đó có 22 điểm di tích cấp quốc gia và 56 di tích cấp tỉnh. Điều đó chứng tỏ Hưng Hà vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa văn hiến hiếm nơi nào có được.

Hưng Hà không chỉ là vùng địa linh sinh người tài mà còn là vùng đất giầu truyền thống văn hoá và cách mạng. Trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược bảo vệ Tổ Quốc, Hưng Hà đã lần lượt tiễn đưa hàng vạn người con ra mặt trận, và đã có gần 6.000 người con ưu tú của quê hương ra đi mãi mãi không về, 3.484 thương, bệnh binh, 252 bà mẹ Việt Nam được tôn vinh Mẹ Việt Nam anh hùng.

I. VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ:

Hưng Hà một vùng quê được bồi đắp bởi 3 con sông lớn: sông Hồng, sông Luộc, sông  Trà, vì thế đã tạo lên những cánh đồng phì nhiêu màu mỡ, hệ thống giao thông nông thôn khá hoàn thiện, 3 trục đường lớn đang được xây  dựng và nâng cấp, đường 39A và đường 223 nối liền thị trấn Hưng Hà  qua Tịnh Xuyên sang Vũ Thư về Thành phố. Và đặc biệt là đường cao tốc nối từ Pháp Vân, Cầu Rẽ đi Hải Phòng sắp được xây dựng. Điều kiện về địa lý, giao thông thuận tiện với những tiềm năng sẵn có, con người và truyền thống lao động sản xuất sẽ là cơ sở là điều kiện cho sự phát triển kinh tế ở Hưng Hà.

1. Về  sản xuất nông nghiệp.

Đã hàng chục năm qua, Hưng Hà luôn đạt năng suất bình quân 13 tấn/ha, luôn là huyện có năng suất lúa dẫn đầu toàn tỉnh. Năm 2008 năng suất lúa đạt 134,15 tạ/ha. Người dân Hưng Hà tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào gieo cấy, chăm sóc bảo vệ lúa, đưa nhanh các giống lúa có năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện của từng địa phương vào sản xuất. Vì vậy huyện Hưng Hà trong hàng chục năm qua năng suất lúa đạt cao và luôn ổn định.

Điều  quan trọng sản xuất nông nghiệp ở Hưng Hà không chỉ là năng suất lúa cao mà còn là việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi để tăng giá trị thu nhập. Trong nhiều năm qua người dân Hưng Hà đều hiểu rằng nếu chỉ độc canh cây luá thì không thể vươn lên làm giầu được, vì vậy đã tích cực, mạnh dạn chuyển đổi một bộ phận diện tích cấy lúa kém hiệu quả sang trồng cây, nuôi con có hiệu quả hơn, hàng ngàn ha được chuyển sang chăn nuôi: lợn, cá, sản xuất rau màu có hiệu quả cao.

Cùng với hai vụ lúa, màu trong năm, Hưng Hà vẫn tiếp tục phát huy thế mạnh của mình là sản xuất vụ đông, là địa phương luôn luôn dẫn đầu toàn tỉnh về diện tích, giá trị sản xuất. Hàng năm diện tích vụ đông đều tăng, năm 2007-2008 diện tích gieo trồng đạt 6.390 ha chiếm 52% diện tích canh tác, vụ đông 2008-2009 điện tích là 7.437,9 ha chiếm 62% diện tích canh tác, điều đáng nói là cơ cấu cây trồng trong sản xuất vụ đông ngày càng phát triển  đa dạng theo chiều hướng tích cực. Nhiều loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao được đưa vào gieo trồng như: Bí đao, dưa quả các loại, cà chua Mỹ, cải xanh xuất khẩu, và đặc biệt là diện tích cây đậu tương tăng mạnh ở tất cả các xã, thị trấn.

Về  chăn nuôi, ở Hưng Hà đã được khai thác có hiệu quả. Đàn gia súc, gia cầm phát triển mạnh, một số vật nuôi có giá trị hàng hoá cao được đưa nhanh vào chăn nuôi như bò lai Sin, tổng đàn bò năm 2008 có 15.110 con, chủ yếu là bò lai Sin; tổng đàn lợn 155.610 con ( không kể lợn sữa ). Toàn huyện hiện có trên 1.371 trang trại, gia trại. Tận dụng thế mạnh người dân Hưng Hà đã đẩy mạng việc nuôi trồng thuỷ sản, mạnh dạn thả nuôi các loại giống mới như cá chép lai 3 dòng, cá Rô phi đơn tính… Diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2008 là 1.400 ha giá trị sản xuất đạt gần 50 tỷ đồng.

2. Về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.

Trong nhiều năm qua Hưng Hà đã tập trung vào phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Vì thế luôn là huyện dẫn đầu khối huyện của tỉnh, về giá trị thu nhập trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Nhờ phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mạnh mẽ nên cơ cấu kinh tế đã bước phát triển theo hướng tích cực, giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng nhanh, thu hút được nhiều lao động vào làm việc. Hiện nay toàn huyện có 165 doanh nghiệp các loại, có 42 làng, 2 xã được tỉnh công nhận là làng nghề, xã nghề.

Nhiều xã trong huyện tiếp tục phát triển những nghề truyền thống cho giá trị thu nhập cao. Nghề dệt bông vải từ làng Phương La nay đã phát triển ra 12 xã trong huyện với 4.670 máy dệt. Nghề dệt chiếu cũng là nghề truyền thống của huyện: “ăn cơm hom, nằm giường hòm đắp chiếu Hới” xưa từ làng Hới nay đã phát triển ra toàn xã Tân Lễ, và các xã lân cận, hàng năm sản xuất trên 10 triệu lá chiếu các loại, sản phẩm chiếu  được đưa đi khắp các miền tổ quốc.

Hưng Hà còn có nhiều nghề khác phát triển với quy mô khá lớn. Toàn huyện có 44 nghề các loại, hàng năm tạo ra nhiều sản phẩm và cho thu nhập cao như: Nghề mộc, nghề mây tre đan, làm lưới ni lông, nghề làm nón, nghề cơ khí nông nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, nghề làm thảm đệm, nghề sản xuất hạt nhựa…. Hiện nay toàn huyện đã có 3 cụm công nghiệp đang hoạt động và ngày càng được mở rộng: Cụm công nghiệp Phương La, cụm công nghiệp Đồng Tu – Phúc Khánh, cụm công nghiệp thị trấn Hưng Nhân và đang tiếp tục quy hoạch một số điểm công nghiệp: xã Minh Tân, xã Điệp Nông….

Nhờ có hệ thống làng nghề và hàng vạn lao động sản xuất trong các làng nghề và doanh nghiệp, nên năm 2008 giá trị thu từ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản đạt 1.047,4 tỷ đồng tăng 25,15% so với 2007 chiếm 48,23% giá trị kinh tế toàn huyện, dự kiến năm 2009 là 1.250 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 51,98%.

II. LĨNH VỰC VĂN HOÁ-THÔNG TIN VÀ THỂ THAO

Hưng Hà là huyện có bề dày truyền thống văn hoá, văn hiến, yêu nước và cách mạng, trong nhiều năm qua những truyền thống đó luôn được khai thác và phát huy. Hệ thống các thiết chế văn hoá trong toàn huyện được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân: Toàn huyện có 34/35 nhà văn hoá xã, 234 nhà văn hoá thôn làng, trên 400 câu lạc bộ các loại, gần 300 tổ nhóm văn nghệ, lưu giữ được 552 di tích trong đó có 22 di tích quốc gia, nhiều di tích không chỉ nổi tiếng trong tỉnh mà còn nổi tiếng trên toàn quốc. Xã Hồng Minh có 2 di tích  quốc gia: Đình Thọ Phú, đình, đền Xuân Lôi thờ Vua Lý và Triệu Quang Phục. Từ đường  nhà bác học Lê Quý Đôn, lăng cụ Lê Trọng Thứ, tới đây huyện Hưng Hà sẽ xây dựng khu lưu niệm Lê Quý Đôn diện tích 10 ha; Đền thờ Bác Hồ tại xã Hồng An nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm 2 lần, cũng đang được nâng cấp. Quần thể di tích nhà Trần tại thôn Tam Đường xã Tiến Đức với tổng diện tích 22 ha đang được xây dựng và hoàn thiện, tại nơi đây còn lưu giữ được lăng mộ của cụ tổ, 4 đời vua và hoàng hậu ,công chúa đầu triều Trần. Đền thờ Tam nguyên Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ, Lễ nghi học sỹ Nguyễn Thị Lộ tại làng Hải Triều xã Tân Lễ, khu đền, lăng Thái sư Trần Thủ Độ, Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung tại xã Liên Hiệp nay đang được hoàn thiện. Đền, chùa, miếu làng Diệc xã Tân  Hoà; di tích nghệ thuật cấp Quốc gia thể hiện bàn tại trạm trổ tài hoa của những nghệ nhân nghề mộc làng Diệc; quần thể di tích thờ Đông Nhung đại tướng quân  nằm dọc bờ sông Tiên Hưng thuộc xã Đoan Hùng và xã Tân  Tiến. Đó là những điểm đến hấp dẫn với du khách, hàng năm thu  hút hàng chục vạn người tới thăm  quan và thưởng ngoạn.

Trong truyền thống văn hoá của quê hương, không  chỉ có bề dày văn hoá vật thể mà văn hoá phi vật thể khá đậm đặc: chèo Hà Xá một trong 3 chiếu chèo nổi tiếng của Thái Bình nay đang được phát huy; Hội Long Vân trước kia chỉ có ở xã Độc Lập nay đã phát triển ra nhiều xã; Hội thi cỗ cá đang được phục hồi tại xã Tiến Đức; pháo đất tại xã Chi Lăng, Hoà Bình; múa tứ linh, đi cầu kiều, chọi gà, cờ tướng, vật và hàng chục trò chơi khác đang được phục hồi và phát triển.

Phong trào xây dựng đời  sống văn hoá ở Hưng Hà phát triển khá vững chắc. được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, trở thành phong trào sâu rộng trong huyện. Hết 2008 toàn huyện có 78 thôn làng, 64 cơ quan đơn vị với 253 lượt được công nhận đơn vị văn hoá. Hàng năm có từ 65-70% số hộ trong huyện đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, hàng trăm dòng họ có từ đường, xây dựng được quy ước và công nhận là dòng họ văn hoá.

Hệ thống thư viện hoạt động khá tốt nhiều năm là đơn vị dẫn đầu toàn tỉnh. Hiện nay Hưng Hà có một thư viện huyện với 11.000 đầu sách, 28 loại báo và tạp chí, 73 thư viện trường học. 35 tủ sách pháp luật, 8 trạm sách và 2 thư viện xã đang hoạt động có hiệu quả.

Hệ thống thông tin, bưu chính, viễn thông ở Hưng Hà cũng khá phát triển, hiện nay toàn huyện có 35 đài truyền thanh các xã, thị trấn trong đó có 14 đài truyền thanh không dây đã và đang xây dựng, có 50 trạm BTS, 29 điểm bưu điện văn hoá và 5 bưu cục, việc nối mạng internet tới tất cả cơ quan trường học đang được tiến hành.

Hoạt động thể thao đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày với các tầng lớp nhân dân trong huyện. Năm 2008 toàn huyện  có trên 24% dân số, 14% số gia đình thường xuyên tập luyện thể dục, thể thao, hàng năm huyện tổ chức từ 15-18 giải thể thao, ở cấp xã từ 130-150 giải. Nhiều năm qua thể thao thành tích cao đã được quan tâm và là một trong huyện có thành tích cao trong các kỳ thi tại tỉnh, đặc biệt là một số môn: môn bơi 11 năm liên tục dẫn đầu tỉnh, các môn điền kinh, bóng đá thiếu niên, nhi đồng, bóng chuyền nữ liên tục đứng ở tốp đầu và nhiều năm xếp thứ nhất, hàng năm nhiều câu lạc bộ thể thao lần lượt được thành lập. Vì vậy trong 7 năm qua liên tục là đơn vị dẫn đầu toàn tỉnh, được Ủy ban thể dục thể thao nhà nước, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tặng cờ Đơn vị thi đua xuất sắc.

III. NGÀNH Y TẾ

Hưng Hà là huyện có mạng lưới cơ sở hạ tầng khá đồng bộ và phát triển. Về tổ chức gồm: phòng Y tế, Trung tâm Y tế huyện, 2 bệnh viện đa khoa, 35 trạm Y tế xã, thị trấn, với tổng số 365 giường bệnh, trong đó ở tuyến huyện là 190 giường bệnh đạt tỷ lệ 14,5 giường/1000 dân. Tổng biên chế của toàn ngành là 402 người, tuyến huyện là 211, tuyến xã 191, trong dó có 84 bác sỹ, công tác tại huyện là 62( trong số 84 bác sỹ có 2 thạc sỹ, 25 bác sỹ chuyên khoa I, 19 bác sỹ chuyên khoa sơ bộ, đạt tỷ lệ 3.2 bác sỹ/1000 dân), dược sỹ đại học có 3 người. Hệ thống cán bộ Y tế cơ sở được củng cố hoàn thiện, hiện nay có 262 cộng tác viên ở các thôn, làng đã và đang được đào tạo chuyên môn có trình độ sơ cấp trở lên.

Về cơ sở vật chất: Bệnh viện đa khoa Hưng Hà và bệnh viện đa khoa Hưng Nhân đang được xây dựng và hoàn thiện, chỉ tính riêng năm 2009, 2 bệnh viện đã được nhà nước đầu xây dựng 17,6 tỷ đồng. Trang thiết bị trong 2 bệnh viện được nâng cấp, 2 bệnh viện đều có siêu âm màu phục vụ nhân dân: tháng 8 đầu năm 2009 đầu tư gần 3 tỷ đồng cho trang thiết bị. Ở khối xã hiện nay có 19/35 trạm xá xã đạt Chuẩn Quốc gia về y tế.

Trong nhiều năm qua cùng với việc xây dựng nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh, thì các hoạt động y tế dự phòng được thực hiện tốt, từ huyện đến cơ sở luôn chủ động tham mưu và thực hiện kế hoạch phòng bệnh, giám sát và phát hiện kịp thời. Vì vậy trên địa bàn không có dịch lớn xẩy ra, các hoạt động vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, phòng chống HIV/AIDS, công tác y tế học đường và quản lý các bệnh xã hội thực hiện khá tốt từng bức đưa các hoạt động này vào nề nếp.

Công tác khám chữa bệnh được các cấp ủy Đảng chính quyền chăm lo, toàn huyện có 42% số dân có thẻ bảo hiểm y tế, hàng năm 2 bệnh viện khám  cho trên 200.000 lượt bệnh nhân, điều trị gần 19.000 lượt người, công suất sử dụng giường bệnh của 2 bệnh viện đạt 150%. Ở tuyến xã hàng năm khám cho trên 250.000 lượt và tổ chức điều trị tại trạm y tế 10.000 lượt bệnh nhân. Ý thức trách nhiệm, tinh thần phục vụ của y bác sỹ ngày càng được nâng cao từng bước thực hiện lời Bác Hồ dạy: “Lương y như từ mẫu”.

III. NGÀNH GIÁO DỤC ĐÀO ĐẠO

Hưng Hà là địa phương có nền giáo dục khá phát triển, nơi đây có truyền thống văn hiến, truyền thống hiếu học. Thời phong kiến trong tổng số 111 vị đại khoa của Thái Bình thì Hưng Hà có 21 người chiếm 18,91% của tỉnh. Đặc biệt trong đó có 2 người đỗ đầu 3 kỳ thi (thi Hương, thi Hội, thi Đình) thì đều ở Hưng Hà đó là Tam nguyên Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ quê ở làng Hải Triều xã Tân Lễ, Tam nguyên Bảng nhãn Lê Quý Đôn quê ở làng Phú Hiếu xã Độc Lập. Truyền thống hiếu học của người dân Hưng Hà xưa thể hiện khá rõ nét không chỉ ở việc học hành khoa cử mà cón ở việc quan tâm của xã hội tới việc học, nhiều người nhờ có học mà thành danh.

 

Ngày nay Hưng Hà đã, đang phấn đấu đưa giáo dục phát triển cả bề rộng, chiều sâu, để người người học tập, nhà nhà học tập, học trong trường và học ngoài nhà trường, vì thế giáo dục Hưng Hà đã có những bước phát triển mới.

Về cơ sở vật chất: Hiện nay toàn huyện có 36 trường mầm non, 36 trường tiểu học, 34 trường THCS, 5 trường PTTH, một trung tâm giáo dục thường xuyên và 1 trung tâm hướng nghiệp dạy nghề; hệ thống các trường học đã và đang được cao tầng hóa, 6/36 trường mầm non, 36/36 trường tiểu học, 12/34 trường THCS đạt chuẩn Quốc gia ở mức độ 1 và 2. Năm 2001 Hưng Hà là 1 trong những huyện đầu tiên của tỉnh phổ cập THCS.

Về đội ngũ giáo viên: Hiện nay 3 ngành học (Mầm non, Tiểu học, THCS) có 3.056 giáo viên, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ngày càng tăng. Tiểu học có 97.7% đạt chuẩn, trên chuẩn chiếm 84,6%. THCS có 99,6% giáo viên đạt chuẩn, trong đó có 30,5 đạt trên chuẩn: Năm 2007-2008 với khối tiểu học có 217 giáo viên giỏi cấp huyện, 6 giáo viên giỏi cấp tỉnh, năm học 2008-2009 giáo viên giỏi cấp huyện có 180, cấp tỉnh có 6. Khối THCS năm 2007-2008 có 197 giáo viện giỏi cấp huyện và 13 giáo viên giỏi cấp tỉnh, năm học 2008-2009 có 130 giáo viên giỏi cấp huyện và 15 giáo viên giỏi cấp tỉnh.

Về chất lượng học tập của học sinh, năm 2008 toàn huyện 3 ngành học có 48.015 học sinh. Hàng năm tỷ lệ lên lớp, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp khá cao, việc học tập dần đi vào thực chất hóa, chất lượng đại trà có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng học sinh giỏi ngày càng được khẳng định. Với khối tiểu học năm 2007-2008 có 726 em đạt giỏi cấp huyện, 10 em giỏi cấp tỉnh, năm học 2008-2009 có 848 em giỏi cấp huyện, 10 em giỏi cấp tỉnh. Khối THCS năm học 2007-2008 học sinh giỏi cấp huyện có 2.015 em và 48 em giỏi cấp tỉnh. Năm học 2008-2009 có 1.756 em giỏi cấp huyện trong đó có 43 em giỏi cấp tỉnh.

Cùng với việc học tập trong các ngành học phổ thông, Hưng Hà tổ chức thực hiện việc toàn xã hội học tập, thông qua các trung tâm học tập cộng đồng. Hiện nay toàn huyện có 35 trung tâm học tập cộng đồng thường xuyên tổ chức các lớp học phổ biến khoa học kỹ thuật sản xuất nông  nghiệp, dạy và phát triển nghề mới, chăm sóc sức khỏe, kiến thức phòng chữa bệnh, nuôi dạy con, vệ sinh môi trường, đường lối chính sách pháp luật và những thông tin khác, góp phần đem đến cơ hội học tập cho mọi người, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần cho nhân dân. Ngoài việc học tập về kiến thức văn hóa, ở Hưng Hà rất quan tâm chú trọng đến dạy nghề, hàng năm trung tâm hướng nghiệp dạy nghề tổ chức đào tạo nghề mới cho hàng trăm lao động, tổ chức hướng dẫn cho hàng ngàn học sinh các trường THPT…

Tuy còn nhiều khó khăn song sự nghiệp giáo dục Hưng Hà đang cố gắng nỗ lực từng bước nâng cao chất lượng dạy và học, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để đưa được sự nghiệp giáo dục của huyện ngày càng phát triển xứng đáng là quê hương Nhà bác học với câu nói nổi tiếng: ”Phi trí bất hưng”./.

545 total views, 1 views today

August 16 2011

Giới thiệu trường THCS Phạm Đôn Lễ

*Nhóm facebook nơi giao lưu cán bộ giáo viên và học sinh:
http://facebook.com/groups/thcsphamdonle

*Fanpage do thầy Tuấn – Phó hiệu trưởng quản lý:

https://facebook.com/THCSPhamDonLe

* Trang chủ:

http://pgdhungha.edu.vn/thcs-phamdonle/

 

 

+Giới thiệu:
Trường THCS Tân Lễ được thành lập năm 1967 theo quyết định của UBND huyện Hưng Hà do hai trường PTCS Tân Mỹ và PTCS Phạm Lễ hợp thành, lúc đó trường có tên là trường PTCS Tân Lễ. Năm 1993 trường được tách ra từ trường PTCS Tân Lễ. Trường thuộc địa phận xã Tân Lễ, phía Bắc giáp sông Luộc, phía Đông giáp xã Canh Tân, phía Nam giáp Thị trấn Hưng Nhân, phía Tây giáp sông Trà Lý. Đến tháng 8 năm 2011 trường được đổi tên thành trường THCS Phạm Đôn Lễ theo quyết định 6600/UBND huyện Hưng Hà. Xã Tân Lễ có 14 thôn với 13000 nhân khẩu, trong đó có 2 thôn theo đạo thiên chúa giáo; là mảnh đất có truyền thống lịch sử văn hóa và cách mạng lâu đời, nổi tiếng với những danh nhân văn hóa như trạng nguyên Phạm Đôn Lễ, lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ… Trường có diện tích 8800m2, có 18 phòng học, 2 phòng học bộ môn, 1 phòng thư viện, 1 phòng Tin học, 1 phòng thiết bị, 1 phòng Đoàn-Đội, 1 dãy nhà hiệu bộ.

Năm học 2010 – 2011 trường có 20 lớp với 667 học sinh. Tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường là 50. Trong đó Đảng viên là: 24; có 35 cán bộ giáo viên, nhân viên trình độ trên chuẩn đạt tỷ lệ 68,6%; 16 cán bộ giáo viên, nhân viên có trình độ chuẩn đạt tỷ lệ 31,4%. Trường có 13 thày cô đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi các cấp, trong đó 1 cô được công nhận giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, 11 thầy cô được công nhận danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện, 2 thầy cô được công nhận giáo viên dạy giỏi cấp trường. Toàn trường có 161 em học sinh đạt học sinh giỏi các cấp; 100% học sinh tốt nghiệp THCS; 98,5% học sinh được lên lớp thẳng.

Danh hiệu thi đua trường đã đạt được: Tập thể LĐTT cấp tỉnh, cấp huyện. Chất lượng giảng dạy của nhà trường luôn giữ ổn định.

Năm học 2011 – 2012 trường có 21 lớp với tổng số 702 học sinh. Tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường là 51, thầy giáo Trần Ngọc Sáng-Hiệu trưởng; thầy giáo Vũ Anh Tuấn-Phó hiệu trưởng; thầy giáo Tô Quang Cảnh-Chủ tịch Công đoàn. Tập thể cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường quyết tâm phấn đấu năm học 2011 – 2012 trường đạt được kết quả cao hơn năm học trước.

Địa chỉ: Xã Tân Lễ – huyện Hưng Hà – tỉnh Thái Bình.

833 total views, no views today