January 21 2016

Giới thiệu đền thờ các vua Trần ở Thái Bình

 

KHU DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỀN THỜ CÁC VUA TRẦN

Đền Trần Thái Bình là một quần thể di tích gồm các đền thờ, lăng mộ thờ các vị vua quan nhà Trần. Đền thờ các vua Trần trên đất phát tích Thái Bình (còn gọi là Thái Đường Lăng) thuộc làng Tam Đường, xã Tiến Đức huyện Hưng Hà. Hệ thống các di tích lịch sử ở đây gồm Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần đều đã được chính phủ Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan trọng.

Địa chỉ: Xã Tiến Đức – Huyện Hưng Hà – Thái Bình – Tỉnh Thái Bình
Ghi chú: xem bản đồ dưới dạng “vệ tinh” và kéo + phóng to/nhỏ để dễ nhìn tổng quan nhất về khu di tích.

 

Một số hình ảnh tại đền trần trong và ngoài lễ hội:

 Toàn Ảnh Sân Và Cổng Đền Trần Thái Bình ngày nay
chủ tịch nước Trương Tấn Sang thắp hương tại đền trần 2012
 

TAM ĐƯỜNG – ĐẤT PHÁT NGHIỆP

NƠI ĐẶT MỘ TỔ CÁC VUA HOÀNG HẬU – CÔNG CHÚA NHÀ TRẦN

I, Truyền thuyết về mộ tổ nhà Trần ở Thái Đường

         Ông tổ họ Trần (Trần Kinh) đến ở hương Tức Mặc (Nam Định ngày nay) rất thạo sông nước, sống bằng nghề chài lưới lênh đênh trên sông Nhị Hà, chỗ nào cũng là nhà, lấy người con gái ở hương ấy sinh ra Trần Hấp. Vào thời Lý Thần Tông (1128 – 1138), có một thầy địa lí  đi xem tướng đất, thấy ở Hương Tinh Cương xã Thái Đường huyện Ngự Thiên phủ Long Hưng có một Gò Hỏa Tinh, thầy cười mà nói rằng: ở nơi bằng phẳng lại nổi lên một gò lớn, hẳn không phải là một hoang địa.
         Thầy vào làng bên nghỉ trọ trong một gia đình, biết là thầy là người giỏi xem đất gia đình ngỏ ý nhờ thầy giúp đỡ tìm nơi đặt mộ. Xong việc gia đình ấy đem lòng bội bạc trói thầy địa lí quảng xuống sông. May thay gặp lúc thủy triều xuống và lúc đó Trần Hấp đánh cá gần đó thấy người kêu cứu liền tới đem thuyền và hỏi duyên cớ. Cảm ơn sự chăm lo chu đáo của Trần Hấp thầy địa lí thưa rằng: “Tôi đội ơn người đã cứu tôi thoát nạn xin tìm nơi cát địa để báo ơn ”.
          Theo sự chỉ dẫn của thầy, giờ lành ngày Tân Dậu tháng Đinh Tỵ năm Quý Sửu, Trần Hấp di mộ cha từ Tức Mặc (Nam Định) về đặt tại gò Hỏa Tinh. Mộ đặt ở hướng Càn (Bắc) nhìn ra ngã ba song lớn, tục gọi là Cửa Vàng. Thế đất đặt mộ cha Trần Hấp theo thầy địa lí là :  “Phấn đại đương giao chiếu, liên hoa đối diện sinh, tha nhật dĩ đắc thiên hạ” (Nghĩa là phấn son cùng chiếu rọi, trước mặt nở hoa sen, sau này có người do nhan sắc mà lấy được thiên hạ).
           Trải qua 28 năm trước khi sinh Trần Lý, Trần Nghị, hẳn Trần Hấp đã gắn bó với vùng đất Thái Đường. Khi Trần Lý trưởng thành đã tiến về phía Bắc và định cư ở làng Hải ấp (nay là xã Canh Tân) cách Tiến Đức 3km. Vào thời Lý Cao Tông (1176 – 1210) Hải ấp là quê hương tướng quân Đàn Phụng Thị, một danh nhân triều Lý. Con gái của Đàm tướng quân trở thành hoàng hậu của vua Lý Cao Tông. Bà hoàng hậu họ Đàm đã sinh ra Thái Tử Sảm.
           Lúc ấy họ Trần ở vùng Hải ấp (Hưng Hà) là quê ngoại của Thái Tử Sảm, nhờ có nghề chài lưới mà giàu có, có thế lực, quy tụ được long dân. Trần Lý sinh được 4 người con (2 trai, 2 gái). Một trong hai người con ấy là Trần Thị Dung, sau này kết duyên với Thái tử Sảm0 của vương triều Lý. Thiên tình sử đó diễn ra trong bối cảnh quốc gia có nhiều biến loạn. Kết quả của cuộc tình mặn mà ấy là hai công chúa Thuận Thiên và Chiêu Thánh ra đời, để rồi sau này Chiêu Thánh công chúa (Lý Chiêu Hoàng) trở thành hoàng hậu đầu tiên của vua Trần, đó là Trần Cảnh.
          Như vậy nhà Trần ở Tức Mặc chỉ có một đời, từ đời Trần Hấp đã di mộ tổ sang Thái Đường (năm Quý Sửu 1133), thì Tức Mặc chỉ còn là quê ngoại. Tính đến Trần Cảnh thì nhà Trần ở đất Long Hưng, trước khi dấy nghiệp có tới 4 đời vua (khoảng 70 năm): Trần Hấp sinh Trần Lý, Trần Lý sinh Thừa, Thừa sinh Cảnh là vị vua khai sáng triều Trần.
           Vì vậy có thể nói rằng: Thái Đường Phủ Lộ Long Hưng (Tiến Đức ngày nay) là nơi phát tích nhà Trần, nơi sinh tồn phát triển và dựng nghiệp của một triều đại có nhiều công lao xây dựng và bảo vệ quốc gia Đại Việt trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

 

1. Cổng  Đền
4. Tòa Bái Đường
7. Tòa Đệ Nghị
2. Giếng Ngọc
5. Sân Chầu
8. Tòa Hậu Cung
3. Sân Đền
6. Hai Tòa Giả Vũ

SƠ ĐỒ TOÀN CẢNH ĐỀN TRẦN (CŨ)

 

II, Quê hương, đất phát tích khởi nghiệp của nhà Trần

          Trong lịch sử phong kiến nước ta có 2 vấn đề: Tôn miếu và xã tắc là 1 mục tiêu quan trọng của mỗi vương triều. Xã tắc là đất đai cương vực, cộng với sức dân trăm họ, đó là cái sở hữu của vương triều. Xã tắc an hay nguy thì vương triều vững hay đổ. Tôn miếu và Lăng tẩm, cùng đền miếu thờ tổ tiên và các tiên đế, hoàng hậu là khí thiêng âm trạch truyền đời của Vương tộc, là lực lượng tinh thần để quy tụ lòng dân trăm họ dưới một ngọn cờ. Tôn miếu hưng hay phế, mồ mả tổ tiên an toàn hay bị đào bới, thì vương triều vinh hay nhục, còn uy linh ngự trị trên xã tắchay mất thiêng với bàn dân thiên hạ.
          Xưa nay các Vương triều từ thời Lý đều chọn đất phát tích làm nơi đặt tôn miếu như Đình Bảng (Hà Bắc) của nhà Lý, Lam Sơn của nhà Lê. Đến thời Trần, sự lựa chọn nơi đặt tôn miếu cũng nằm trong tư duy chính trị ấy. Như đã nêu trên và căn cứ thực tế đời sống cổ truyền dân tộc, thì quan niệm nơi sống và nơi chết có lien quan hữu cơ với nhau: “Sống ngâm da, chết ngâm xương”. Mộ tổ là tiêu chí quan trọng để có thể tìm kiếm đất phát tích của một dòng họ, một gia đình, vì vậy Thái Đường được nhà Trần chọn làm nơi đặt tôn miếu. Do vivj trí của Thái Đường thuận lợi cho giao thông vì thế được nhà Trần chọn là hậu phương của mình. Xét về địa thế quân sự, tôn miếu nhà Trần ở Thái Đường an toàn hơn cả Kinh Đô vì vậy các vùng phụ cận là nơi sơ tán của vương triều khi giặc kéo vào kinh đô. Trong đó có vai trò của người con gái làng Ngừ (Trần Thị Dung) vô cùng to lớn. Cuối thời Trầb, trước những cuộc lấn chiếm của người Chiêm Thành lợi thế quân sự đó không còn nữa, lặng mộ các đời sau chuyển về Yên Sinh – Quảng Ninh.
Vua Trần Thái Tông
Thái Tổ Trần Thừa
Vua Trần Nhân Tông
Vua Trần Thánh Tông
Thống Quốc Thái Sư Trần Thủ Độ
Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung

 

III, Lịch sử hình thành

          Cách đây hơn 700 năm, tại đây, các vị vua khai nghiệp nhà Trần sinh ra và khởi nghiệp. Trong khoảng thời gian 175 năm tồn tại, triều Trần đã lãnh đạo quân dân Đại Việt lập nên những chiến công hiển hách, ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông hung hãn bậc nhất thời đó .
         Trong cả ba cuộc kháng chiến đó, sau thành Thăng Long, mảnh đất Long Hưng – Ngự Thiền đều là nơi nhà Trần chọn làm hậu cứ để xuất nhập thần kỳ.
          Lịch sử Việt Nam ghi nhận vương triều nhà Trần đã sinh ra các vị vua anh minh tuấn kiệt như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và rất nhiều tướng soái tài ba, nhân vật lịch sử kiệt xuất như Trần Thủ Độ, Linh từ  Quốc mẫu Trần Thị Dung, Trần Hưng Đạo…
          Cũng tại đây chứng kiến nhiều sự kiện trọng đại gắn liền với vương triều Trần như đại lễ bái yết tổ tiên và ăn mừng chiến thắng quân Nguyên – Mông lần thứ ba (17 tháng 3 năm 1288). Chính trong cuộc lễ lớn này, Vua Trần Nhân Tông đọc 2 câu thơ bất hủ:
“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn Hà thiên cổ điện kim âu”
(Đất nước hai phen chồn ngựa đá / Non sông ngàn thuở vững âu vàng).
          Mùa hạ 1312 vua Trần Minh Tông đi tuần thú biên giới phía Nam về, cũng làm lễ báo tiệp tại lăng các tiên đế tại Thái Đường Phủ Long Hưng.
          Tháng 11 – 1390 với chiến thắng của Trần Khát Chân tại cửa Hải Thị – Ngự Thiên giết được vua Chiêm là Chế  Bồng Nga, Vua Trần Thuận Tông cũng về Long Hưng bái yết để dâng công chiến thắng lên tổ tiên.
           Đặc biệt mảnh đất Tam Đường linh thiêng hiện lưu giữ hài cốt của các bậc tổ tiên triều Trần như Thủy tổ Trần Kinh, Thái tổ Trần Hấp, Nguyên tổ Trần Lý, Thái Thượng hoàng Trần Thừa… Khi các vị vua và hoàng hậu băng hà, trên một nửa được an táng tại quê nhà và đều được xây lăng miếu phụng thờ.
          Thái Đường Lăng là nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vị vua đầu triều Trần: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông. Các hoàng hậu sau khi qua đời đều được quy về hợp táng tại các lăng mộ Thọ Lăng, Chiêu Lăng, Dự Lăng, Quy Đức Lăng. Trong 4 vị hoàng hậu thì 2 vị được ghi rõ là Khâm Từ Bảo Thánh hoàng hậu (vợ vua Trần Nhân Tông), Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu (em gái Khâm Từ). Hai vị còn lại khả năng là Thuận Thiên Hoàng Thái Hậu (vợ vua Trần Thái Tông) vàNguyên Thánh Thiện Bảo hoàng thái hậu (vua Trần Thánh Tông).
        Đây là đặc điểm độc nhất vô nhị trong các di tích về thời đại nhà Trần trong cả nước.

 

 IV,  Khu lăng mộ các vua Trần ở Tiến Đức – Hưng Hà

           Các công trình kiến trúc được bố trí theo trục chính, chia thành các không gian hành lễ, không gian nội tự đền, không gian vườn cây xanh… kế thừa và phát huy kiến trúc đình làng.
Riêng toà hậu cung Đền Trần có kết cấu chữ đinh, gồm hai toà tám gian, trên diện tích 359 m2, tôn vinh vẻ uy linh của hậu cung với hệ thống rồng đá được chạm trổ tinh vi, sống động.
+,  Tòa Hậu Cung
      –   Chính cung thờ:
          1, Linh vị cụ Trần Kinh (Truy tôn Mục tổ Hoàng đế)
          2, Linh vị cụ Trần Hấp (Truy tôn Linh tổ Hoàng đế)
          3, Linh vị Nguyên Tổ Trần Lý (Truy tôn Nguyên tổ Hoàng đế)
          4, Thánh Tượng Thái Tổ Trần Thừa (Truy tôn Thái tổ Hoàng đế). Ông là con trưởng của Trần Lý. Tháng 10 năm Bính Tuất (1226) ông chính thưc vào ngôi Thượng Hoàng để củng cố Vương Triều, xây dựng đất nước. Thượng Hoàng băng ở cung Phụ Thiên năm Giáp Ngọ thứ 3 (1234) tháng Giêng ngày 18. Mộ táng tại Thọ Lăng Thái Đường. 12 năm sau khi ông mất, ông được truy tôn là Thái Tổ.
      – Bên phải thờ Thánh Thượng Thống Quốc Thái Sư Trần Thủ Độ. Ông là một nhân vật kiệt xuất đi đầu trong sự nghiệp dựng nước và giữu nước thời Trần. Ông qua đời vào năm Giáp Tý (1264). Hiện có đình thời và lăng mộ tại xã Liên Hiệp, Hưng Hà.
     – Bên trái thờ Thánh Thượng Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung. Sinh thời bà là người con gái tái sắc vẹn toàn, bà đã dàn xếp mọi bất bình nội tộc để củng cố niềm tin và đoàn kết chống thù trong giặc ngoài, xây dựng vương triều phát triển. Bà mất năm 1259, hiện có đền thờ và lăng mộ tại xã Liên Hiệp, Hưng Hà.
          +, Tòa Đệ Nhị
       – Chính giữa là ban thờ Thánh tượng vua Trần Thái Tông (Miếu hiệu của Trần Cảnh 1218 – 1277). Ông là đời vua  đầu tiên của triều Trần, là con trưởng của Trần Thừa, được Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi năm Ất Dậu (1225), năm Mậu  Tý (1258) nhường ngôi làm Thái Thượng Hoàng. Đến năm 1277 ngày 1 tháng 4 (AL), ông băng hà thọ 60 tuổi mộ táng ở Chiêu Lăng – Thái Đường.
       – Bên trái thờ Thánh tượng vua Trần Thánh Tông(Miếu hiệu của  Trần Hoảng 1240 – 1296). Ông là đời vua thứ hai Triều Trần, là con trưởng Vua Thái Tông. Năm 1258 được vua cha nhường ngôi làm vua 21 năm. Năm Giáp Thân (1284) nhường ngôi cho Nhân Tông làm Thượng Hoàng, băng hà  vào ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần (1290) thọ 51 tuổi. Mộ táng ở Dụ Lăng – Thái Đường.
      – Bên phải thờ Thánh tượng vua Trần Nhân Tông(Miếu hiệu của Trần Khâm 1258 – 1308). Ông là đời vua thứ ba của triều Trần, là con trưởng vua Thánh Tông. Năm 1293 (Kỷ Tỵ) nhường ngôi cho con là Anh Tông làm Thượng Hoàng và xuất gia.
Năm Mậu Thân (1308) ngày 3 tháng 11 (ÂL), ông băng hà ở Am Ngọa Vân Yên Tử (Đông Triều Quảng Ninh) thọ 51 tuổi. Thi hài được hỏa táng theo phép nhà Phật.
Xá lỵ của ông được gửi gắm ở  3 nơi, 3 đỉnh tam giác địa chính trị quân sự dưới  triều đại nhà Trần. Đó là Thái Đường (Long Hưng) Tức Mặc (Nam Định) và Yên Tử (Quảng Ninh).
+, Tòa Bái Đường:
           Thờ Ngai và bài vị của hội đồng các quan, tả thờ Văn quan, Hữu thờ Võ tướng triều Trần.
           Ngoài ra trong quần thể đền thờ các vua Trần còn cí Đền thánh thờ Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo, đền thờ Mẫu…Hiện nay quần thể di tích đang tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện với tổng diện tích 22 ha.
Xem thêm tại: Dentranthaibinh.com

794 total views, no views today

November 17 2015

Nổ bỏng ngô (gậy – hạt) ở Tân Lễ

Phần giới thiệu:

Nông thôn thiếu thốn, quà cho trẻ con đôi khi chỉ là cái kẹo bột, gói bỏng ngô, bỏng gạo. Trẻ con thành phố ít có cơ hội biết đến món quà ngon này nên chẳng hiểu được cái cảm giác tranh nhau đến vỡ vụn ống bỏng vừa nổ xong giòn rụm…

Máy nổ bỏng ngô và máy nghiền bột

Bỏng gạo là “quà đặc biệt” của trẻ con nông thôn Việt Nam. Đặc biệt, bởi nó ít khi bán sẵn ở các chợ, người muốn có bỏng ăn phải mang gạo, mang đường xuống máy nổ của một nhà trong làng rồi đợi nổ xong.

Thông thường, tối tối mùa hè, việc nhà xong xuôi, trẻ con lại năn nỉ mẹ gói cho bò gạo, ít đậu xanh, lạc khô vào cái túi, í ới gọi thêm dăm đứa trẻ trong làng cùng đi nổ bỏng. Nổ được cả bao tải bỏng, mất đâu có mấy nghìn lẻ, lại có cái ăn vui miệng cả nhà nên người lớn hay chiều trẻ con món quà quê dân dã này.

Làm bỏng gạo đơn giản. Cần gạo tẻ, đường trắng, một ít đậu xanh, lạc khô. Người nổ bỏng đổ hết nguyên liệu vào một đầu của máy, cái máy tự xay đều, trộn đều với nước, rồi đầu kia tự khắc có bỏng gạo đẩy ra. Những cái bỏng gạo làm ra dài, hình ống, nhưng cái thẳng cái cong. Bỏng gạo màu trắng tinh nõn nà, giòn khầng khậc, ăn vào thơm ngon, thấy cả mùi của gạo, lạc, đỗ xanh bùi bùi ngậy ngậy. Vài nhà làm bỏng có phẩm màu thực phẩm còn cho thêm chút ít vào, cái bỏng đẩy ra lúc xanh, lúc hồng khiến trẻ con sung sướng tranh nhau.
Bỏng gạo ngày hôm nay vẫn giòn thơm nhưng không còn “vị đặc biệt” khi tự tay mang gạo đi nổ bỏng.
Nổ 3 bò gạo, chút xíu đường, lạc, có khi được cả bao tải bỏng, vì thứ quà này lồng khồng, nhẹ bẫng. Bỏng gạo nổ ra, còn ấm, bọc thật kín trong bao cho nó luôn giòn. Mang bao bỏng về tới hiên nhà, trẻ con đã chờ sẵn để nhón lấy những ống bỏng dài, hít hà, rồi cắn, ngon miệng vui tai.

Những năm tháng thiếu thốn của nông thôn, bỏng gạo là thứ bánh không thể thiếu của con trẻ ngày rằm tháng 8. Trước rằm cả nửa tháng, trẻ con đã giục bố mẹ đong gạo từ sớm để xếp hàng đi nổ bỏng, mỗi đứa trẻ khi chở trên xe đạp về nhà một bao bỏng thì hân hoan như đã làm xong một chiến công. Mâm cỗ trung thu giản đơn, toàn quà quê, mía, bưởi, chuối, bánh kẹo ít, bỏng gạo mới nổ xong được trẻ con sung sướng đón nhận, ăn, rồi ôm cả vào áo mang về.

Công đoạn nổ ngô

Đã qua rất lâu cái thời trẻ con ríu rít rủ nhau đi nổ bỏng, cũng qua rất lâu cái ngày mâm cỗ trông trăng chỉ có bỏng gạo và cây trái vườn nhà nhưng trẻ con đón đợi, trông chờ. Tôi trở lại quê ngoại nhiều lần, những nhà có máy nổ bỏng đã thưa, cũng ít thấy món quà quê này được các cháu ở đây thích thú.

Thi thoảng bắt gặp trên phố phường Hà Nội một gánh bỏng của cô hàng xén từ nông thôn lên, có đủ bỏng gạo, nẻ, bỏng ngô, đậu tương rang, lạc rang. Những gói bỏng gạo đúc thành ống tròn trịa, đẹp mắt, gói trong túi nilon lịch sự, cô hàng xén nói trẻ con thành phố ít mua, còn khách nước ngoài hay thích quà quê Việt Nam…

Nhớ thương bỏng gạo của những ngày thơ bé!

Trên đây là bài viết giới thiệu về món bỏng ngô. Để tìm hiểu thông tin thêm hoặc có nhu cầu bạn hãy xem tại phần bên dưới:


Tìm hiểu thêm về các công đoạn để bỏng ngô:

Để có một món ăn bỏng ngô vừa thơm, giòn, ngon. Các bạn hãy làm theo hướng dẫn:

Điều đầu tiên dựa vào sở thích của bạn. Hãy tự trả lời câu hỏi sau:

*Bạn thích ăn gậy hay hạt?

Ưu nhược điểm:

  • Gậy: thành que dài, dễ cầm. Nếu là trẻ em rất thích bởi có thể làm súng vừa bắn vừa ăn :D, nhưng bị dát mồm nếu ăn nhiều.
  • Hạt: Bỏ vô mồm, nhai rất dễ, (không bị dát mồm khi nhai nhiều)

Tuy thế nhưng cả hai đều có hương vị như nhau cả thôi vì cùng một khuôn ra mà. Vậy các bạn hãy để khi đến nhà nổ ngô lựa chọn cũng được. Như vậy bác sẽ đỡ vất vả hơn!

Công thức pha trộn để có một món bỏng ngô ngon đó là:

(tỉ lệ 100%): gạo 50%, ngô 20%, đỗ xanh 10%, Mì tôm 10%, đường 10%.  Các bạn hãy mang đến nhà nổ bỏng kèm theo một cái bao để đựng nhé. Tùy ít, hay nhiều mà mang số lượng bao cho hợp lý, nếu thừa là không có cái đựng đâu. Khi mang đến nhà nổ ngô, các bạn nhớ đổ gạo ra thau trộn tất cả mọi thứ vào với nhau, nếu có mì tôm thì bóp hoặc đập nhỏ và nhớ phải nhỏ kèm theo một chút nước để cho ngấm đều đường và gạo. Cuối cùng chỉ việc đợi các bác nổ bỏng nổ cho thôi. Tất cả chỉ có thế!

(Bật mí: ngày xưa nổ bỏng ngô cũng được gọi là nổ phòng phành đấy nên đừng thắc mắc nhé)

Bỏng gậy

hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa cho sản phẩm 🙂

Trang chính

Google Plus

Để có một món bỏng ngô ngon và hấp dẫn:

Các bạn có thể đến địa chỉ được đánh dấu tại Map này:

Đ/c: Nhà bác Bàn Vuốt – Đội 14, thôn Thanh Triều, xã Tân Lễ, Hưng Hà, Thái Bình.

Biển hiệu đặt trước cửa nhà thường ngày.

Dịch vụ khác – thông tin cần biết:

  • Nghiền bột loại nhỏ mịn dành cho trẻ, đỗ uống, làm tương… tính theo kilogram giống nổ ngô: giá 5000vnđ /1kg.
  • Cắt tóc, lấy ráy tai tại nhà: giá 20.000 vnđ/1 người.

Chúc các thành công!

1,379 total views, 1 views today

December 16 2013

Bài thơ đất Hưng Hà – Thái Bình

Huyện Hưng Hà


Chẳng nơi nào đẹp bằng nơi ta sống
Chẳng nơi nào tuyệt vời hơn nơi mình đã sinh ra
Con đường 39 chạy qua
Mảnh đất huyền thoại Hưng hà quê tôi
Thái Phương nghề dệt lâu đời
Làng Mẹo tỷ phú bao người nổi danh
Chí Hòa nơi ấy đất lành
Cò về bay đậu trên cành xôn xao
Tam Đường, Tiến Đức gò cao
Nhà Trần phát tích, tự hào chiến công
Ba lần thắng giặc Nguyên Mông
Giữ yên bờ cõi sử hồng còn ghi
Đông Đô có rượu Đô Kỳ
Giao lưu bè bạn lắm khi say mèm
Hồng Lĩnh anh dũng trung kiên
Ngày xưa phá bốt Cô Tiên chống càn
Tấp nập thị trấn Hưng Nhân
Nghề bún thôn Mẽ xa gần tiếng tăm
Ngọt ngon long nhãn Hồng An
Có nhà thờ Bác đến thăm Thái bình
Xây nông thôn mới Hồng Minh
Tịnh Xuyên câu mới nối tình 2 quê
Tháng tư nhớ hội làng Tè
Phúc Khánh, phố Lẻ người về hội đông
Danh nhân Văn Cẩm, Kỳ Đồng
Tuy còn ít tuổi nặng lòng nước non
Thăm nhà cụ Lê Quý Đôn
Độc Lập, làng cổ bảo tồn tinh hoa
Làng mộc Mỹ giạc Tân Hòa
Làng Me bánh tráng bánh đa gia truyền
Tân La cổ kính linh thiêng
Xưa nhiều lò gạch chỉ riêng Đoan Hùng
Đặc sản nổi tiếng nhất vùng
Thịt chuột nơi đó Kim Trung làm giàu
Chiếu Hới nổi tiếng từ lâu
Tân Lễ nhộn nhịp bên cầu Triều Dương
Văn Quan truyền thống làm hương
Nay nước Duyên Hải trên đường thành công
Việt Yên chợ mới thêm đông
Điệp Nông bát ngát cánh đồng ngô khoai
Món ngon trên đất Minh Khai
Cuốn tôm làng Nấp những ai đã từng
Địa hình lòng chảo Thái Hưng
Mùa mưa nước ngập lội bùn gian nan
Chiếu chèo vang vọng Chi Lăng
Trò chơi pháo đất hội làng rền vang
Hội làm vườn xã Văn Lang
Phát triển gia trại khang trang xanh rờn
Nghề mới dệt lưới Nilon
Tăng thêm thu nhập Bắc Sơn quê mình
Xã mới thành lập Hòa Bình
Đổi mới phát triển hành trình chông gai
Thanh niên năng động Kiều Trai
Minh Tân chăm chỉ gái trai cần cù
Liên Hiệp, làng Nại, thôn Ngừ
Lăng thờ Quốc mẫu, Thái sư nhà Trần
Cây Sanh Lưu Xá bao năm
Nghề mộc nhộn nhịp, Canh Tân làm giàu
Tan trường áo trắng một màu
Hùng Dũng, cống Rút chen nhau đi về
Hẹn hò những buổi trưa hè
Hưng hà thị trấn, ăn chè ăn kem
Đền Buộm cổ kính uy nghiêm
Tân Tiến mở hội đến xem đông người
Hòa Tiến cây cối tốt tươi
Luân canh bốn vụ, tiếng cười râm ran
Tây Đô rổ rá em đan
Mĩ miều Thịnh vượng tên làng thật hay (Mĩ thịnh )
Cộng Hòa thay đổi hàng ngày
Nhân dân lao động hăng say trên đồng
Ngưu tất Thống nhất hay trồng
Cây dược liệu quý, vụ đông vào mùa
Hà Lang làng cũ ngày xưa
Dân giàu Dân chủ thi đua nhà nhà
Quê em làng lúa làng hoa
Quanh năm vất vả Minh Hòa là đây
Miền quê tình nghĩa đong đầy
Địa linh nhân kiệt, đắm say chan hòa
Có là con mẹ con cha
Thì sinh ở đất Duyên Hà, Thần Khê
Mai Long Bui Thuy Tai Le Tien Tuệ Thứ


Đóng góp – Vương Là Vua

501 total views, 1 views today

October 12 2013

Hai bài hát về đất Hưng Hà Thái Bình

LỜI GIỚI THIỆU “TÌNH CA TRÊN ĐẤT HƯNG HÀ

Một vùng châu thổ, một vùng đất cổ địa linh nhân kiệt, nơi phát tích nhà Trần với biết bao người con anh hùng, tuấn kiệt – đó là đất Hưng Hà phía tây-bắc tỉnh Thái Bình. Miền quê này đã đón Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo về thăm để viết nên ca khúc “Tình ca trên đất Hưng Hà” với những giai điệu trữ tình da diết mang âm hưởng của tình đất tình người nơi đây. Theo Nhạc sĩ kể lại thì sau khi thăm những di tích và danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Hưng Hà, anh đã thức trắng đêm với vị Chủ tịch huyện Nguyễn Hồng Chuyên, và được anh Chuyên đọc cho nghe bài thơ ngợi ca mảnh đất này. Bài thơ và cuộc trò chuyện tâm tình đã làm nhạc sĩ vô cùng xúc động. Và thế là từ bài thơ của Nguyễn Hồng Chuyên, âm nhạc đã được cất lên hồn nhiên và say đắm. Đó là bài “Tình ca trên đất Hưng Hà” làm lay động lòng người.

“Một vùng đất mênh mông, long lanh huyền thoại
Đền Trần sáng lunglinh, quê hương vui mở hội
Nghe hào khí Đông A trong từng khúc dân ca…
Hát về đất quê ta. Hát về người quê ta
Hát sông về với đồng. Hát đời đẹp tiếng ca…”

Sau đây là ca khúc “Tình ca trên đất Hưng Hà”, lời thơ của Nguyễn Hồng Chuyên, nhạc của Nguyễn Trọng Tạo, do các ca sĩ Anh Thơ và Quang Hào trình bày.

Đất quê ta đất vàng đất ngọc,
Người quê mình chung thủy sắc son
ai về đất mẹ quê cha
địa linh nhân kiệt Hưng Hà quê em
địa linh nhân kiệt Hưng Hà quê anh
Hưng Hà ơi, vùng đất địa linh anh hùng đất việt
vương triều nhà trần 3 lần đánh bại giặc mông nguyên

kẻ thù khiếp sợ quân dân đất này,

 


Và bài hát thứ 2: Sáng sớm họ thường bật trên loa của huyện. nên có cảm giác quen thuộc.

Bên em về Hưng Hà, nơi miền quê ta đó
Quê ta miền đất cổ, miền nhân kiệt địa linh.
Bên anh về Hưng Hà, ba dòng sông soi bóng,
Đây sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý xanh xanh.

Một vùng lúa mênh mông, long lanh huyền thoại
Đền Trần sáng lung linh, quê hương vui mở hội.
Nghe hào khí đông a trong từng khúc dân ca em hát… ơ hò, hò ơ…

Hát về đất quê ta, hát về người quê ta
Hát thương đồng lúa vàng, hát đẹp thảm chiếu hoa…à há…
Một ngày mới đang lên trên quê hương huyền thoại
Làng nghề tiếng thoi đưa, râm ran như mở hội
Nghe vọng tiếng ca xưa trong bài hát hôm nay em hát..ơ hò, hò ơi

Hát về đất quê ta, hát về người quê ta
Hát sông về với đồng, hát đời đẹp tiếng ca. à …há
( Hát tình anh yêu em, hát tình em yêu anh
mãi yêu quê nhà ta đó………ơi Hưng Hà !)

505 total views, no views today