September 2 2012

Lễ khai giảng năm học mới (2011-2012) THPT Hưng Nhân

Hòa chung niềm hân hoan đón chào năm học mới của hàng chục triệu học sinh trong cả nước, ngày 5-9, thày và trò trường THPT HƯNG NHÂN đã long trọng tổ chức lễ khai giảng năm học mới 2011-2012.

Đây là năm học đầu tiên triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, tiếp tục thực hiện chủ đề: “Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”; tiếp tục triển khai có hiệu quả, sáng tạo cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị 06-CT/T.Ư của Bộ Chính trị, gắn với thực hiện cuộc vận động của ngành: “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; phong trào thi đua: “Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực”.

Lễ khai giảng được sự chuẩn bị rất chu đáo từ nhiều ngày trước lễ khai giảng, thầy và trò nhà trường  đã có kế hoạch cụ thể cho mỗi công việc, đội văn nghệ nhà trường hăng say luyện tập những tiết mục đặc sắc dành để chào mừng lễ khai giảng năm học mới.

7h 30” lễ khai giảng chính thức được bắt đầu.  Lễ khai giảng được chia làm 2 phần, phần Hội và phần Lễ.

Phần Hội gồm các tiết mục văn nghệ chào mừng ngày khai giảng của đội văn nghệ Nhà trường.

Mở đầu là ca khúc “ Chào buổi sáng”  với sự trình bày của em Trần Ích Tuấn lớp 11A9

 


Tiếp theo là bài hát “con đường đến trường” sáng tác của nhac sĩ Phạm Đăng Khương do tam ca Huệ – Hồng – Anh trình bày

“ Dòng Sông Quê Anh – Dòng Sông Quê em” được tiếp nối vói đôi song ca thầy Quynh và cô Nga

 


Bài hát “ giấc mơ tà áo trắng” do bạn Hồng chi đoàn 12A3 thể hiện

 


“ Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm” của thày Quynh tiếp nối chương trình

 


Tiếp đến là ca khúc “kỉ niệm mái trường” do bạn Huệ lớp 11A11 trình bày

 


Cô Nga cùng em Hồng chi đoàn 12A3  kết thúc chương trình với bài hát “ Hồn Sông Thương”

 


Buổi lễ khai giảng tiếp tục với phần Lễ, Cô Bùi Thị Nguyệt – Phó Hiệu trưởng Nhà trường lên điều hành buổi lễ, tiến hành chào cờ, giới thiệu đại biểu tham dự.

 

Về dự với lễ khai giảng năm học 2011-2012 cùng thày và trò trường THPT Hưng Nhân, có các vị đại biểu đại diện cho Đảng Ủy , Ủy Ban Nhân Dân các xã có con em theo học tại nhà trường, cùng đại diện công ty xây dựng đang làm việc tại nhà trường, đại diện Hội Cha Mẹ học sinh cùng Ban Giám Hiệu, các thày cô giáo và toàn thể các em học sinh đã có mặt đông đủ.

Các vị đại biểu đã lên tặng hoa chúc mừng nhân dịp khai giảng năm học mới. Thầy Trương Công Hội đã thay mặt Hội đồng giáo dục nhà trường lên nhận hoa

 

Tiếp đến, Cô giáo Bùi Thị Nguyệt đọc thư của Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang gửi các thầy, cô giáo và các em học sinh nhân dịp năm học mới.

 


Thầy Trương Công Hội – Bí Thư Chi Bộ, Hiệu trưởng Nhà trường lên đọc diễn văn đánh giá lại kết quả đức dục và trí dục của nhà trường trong năm học vừa qua và phương hướng năm học tới.

 


Và không thể thiếu trong ngày khai giảng đó là tiếng trống trường, tiếng trống báo hiệu năm học mới đã bắt đầu.

 

Em Thanh Thảo chi đoàn 12A7 thay mặt học sinh toàn trường đọc lời hứa quyết tâm học tập thật tốt

 


Đại diện Hội Cha Mẹ học sinh lên phát biểu ý kiến

 

Buổi lễ khép lại diễn văn  bế mạc của cô Bùi Thị Nguyệt – Phó Hiệu trưởng Nhà trường. Buổi lễ diễn ra ngắn gọn nhưng đọng lại trong thầy và trò Nhà trường là niềm vui và niềm tin tưởng vào kết quả tốt đẹp của một năm học mới.


Learn how to solve a Rubix Cube with the beginner method, using only six algorithms.

396 total views, no views today

August 8 2012

Tập Quân Sự lớp 12

Đây là toàn cảnh môn bò, Xem thử cảm giác tập nhá:

và đây là một số hình ảnh ngày cuối kiểm tra môn bò!!!!

Bò ngoài sân khổ quá

Lúc đầu sân ướt nhưng bò như này nên được lau khô

-Download toàn bộ các ảnh gốc trên tại đây

*Hướng dẫn dùng phần mềm giải nén để bung ảnh ra, hãy sửa tên trước khi bung…

PostScript:

-Hình ảnh được lấy trên host của Photobucket…

-Trong suốt thời gian chụp, có một số thằng mad cản trở người thi hành công vụ… vì vậy sưu tầm được rất ít những hình ảnh. mong đây sẽ là những hình ảnh đẹp lưu giữ mãi về sau!!….

496 total views, no views today

July 8 2012

Vietsub – Everytime (A1)

Lately I’m not who I used to be
Someone’s come and taken me
Well, I don’t wanna go

If I knew exactly what I have to do
In order to be there for you
When you were feeling low

And all the things we ever wanted
Were once yours and mine
Now, I know we can revive it
All the love we left

Everytime I kiss I feel your lips
And everytime I cry I see your smile
And everytime I close my eyes, I realize

That everytime I hold your hand in mine
The sweetest thing my heart could ever find
And I have never felt this way
Since the day I gave your love away

Save me, I’ve fallen from my destiny
You and I were meant to be, I’ve thrown it all away
Now you’re gone, it’s time for me to carry on
But baby, I just can’t go on without you by my side

And all the things we ever wanted
Were once yours and mine
Now, I know we can revive it
All the love we left

Everytime I kiss I feel your lips
And everytime I cry I see your smile
And everytime I close my eyes, I realize

That everytime I hold your hand in mine
The sweetest thing my heart could ever find
And I have never felt this way
Since the day I gave your love away

We can survive it all the pain we feel inside
You relied on me and now I’ve let you down
(I’ve let you down)
Now, I promise you forever I will be the best I can
Now, I know we can revive it all the love we left

Everytime I kiss I feel your lips
And everytime I cry I see your smile
And everytime I close my eyes, I realize

That everytime I hold your hand in mine
The sweetest thing my heart could ever find
And I have never felt this way
Since I gave your love away

Everytime I kiss, everytime I cry
And everytime I close my eyes, I realize
That everytime I hold your hand in mine

The sweetest thing my heart could ever find
And I have never felt this way
Since the day I gave your love away

 

391 total views, no views today

May 16 2012

Giới thiệu về xã Tân Lễ huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình

Tân Lễ là xã cực Tây Bắc của huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình Việt Nam.

Vị trí

cầu Triều Dương

Tân Lễ nằm ở ngã ba sông Luộc và sông Hồng (tên gọi cổ của ngã ba này là cửa Tuần Vườn), giáp ranh với tỉnh Hưng Yên (ranh giới là sông Luộc) và Hà Nam (ranh giới là sông Hồng), là xã đầu tỉnh ở phía tây bắc của tỉnh Thái Bình. Phía Nam và Đông Nam Tân Lễ giáp xã Phú Sơn (tức là thị trấn Hưng Nhân hiện nay), phía Đông là xã Canh Tân, là các xã cùng huyện. Phía Bắc giáp các xã Đức Thắng, Hải Triều, Thiện Phiến của huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên, phía Tây Bắc và Tây là các xã Thủ Sĩ, Tân Hưng của huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên. Phía Tây Nam, Tân Lễ giáp xã Chân Lý huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam. Tân Lễ có quốc lộ 39 chạy ngang qua, với Cầu Triều Dương bắc qua sông Luộc nối Thái Bình với Hưng Yên.

Vào cuối thế kỷ 19, phần đất xã Tân Lễ ngày nay, là các làng (thời đó gọi là xã) Hải Triều (tên nôm là Hới), Thanh Triều, Hà Xá (nay là thôn Tân Hà),… thuộc tổng Thanh Triều huyện Hưng Nhân phủ Tiên Hưng trấn Sơn Nam Hạ.

Địa điểm trên google Map

Lịch sử tên gọi

Căn cứ vào quyết định số 214-CP ngày 21-11-1970 của Hội đồng Chính phủ ủy nhiệm cho Phủ thủ tướng phê chuẩn việc phân vạch địa giới có liên quan đến các đơn vị hành chính xã và thị trấn.

Ngày 23 tháng 2 năm 1977, hợp nhất 2 xã Phạm Lễ và xã Tân Mỹ thành xã Tân Lễ, tên Tân Lễ được ghép từ chữ Tân (trong từ Tân Mỹ) và Lễ (trong từ Phạm Lễ).

Lễ hội

Hội làng Hới (Hội chiếu): Hàng năm, ngày 06/01 âm lịch tại đình làng Hới (thờ trạng nguyên Phạm Đôn Lễ), diễn ra lễ hội

Đền thờ Phạm Đôn Lễ

Làng Hới, lịch sử ghi chép rằng Khi “Trạng chiếu” mất, người dân lập đền thờ gọi là đền Quan Trạng, quanh năm hương khói. Lễ hội tưởng nhớ đến công ơn của Quan Trạng, tương truyền đó là ngày Phạm Đôn Lễ mất. Trong lễ hội, ngoài phần lễ nghi, người ta còn tổ chức hội thi dệt chiếu rất sôi nổi thu hút dân trong vùng và khách thập phương đến tham dự. ngoài ra còn có thêm nhiều các trò chơi dân gian như leo cây chuối, đi cầu kiều, bắt vịt dưới ao và xem trèo thuyền, xem các màn rước lễ từ các thôn trong xã đến….

Lễ hội làng Hới bắt đầu bằng nghi thức rước kiệu “Trạng chiếu”. Từ sáng sớm ban khánh tiết và những người có trách nhiệm đã tề tựu đông đủ để làm lễ rước. Đám rước diễn ra rất long trọng với đầy đủ cờ xí, chấp kích, bát bửu, chiêng trống, kiệu thánh, dàn bát âm… Dân làng theo đám rước rất đông. Lễ rước thể hiện lòng biết ơn của dân làng đối với “ông tổ nghề” cũng như lòng yêu mến đối với người con hiếu thảo của quê hương.

Hội làng Phú Hà: hàng năm tại đền Phú Hà nhân dân tổ chức lễ hội từ ngày 10/3 đến 15/3 âm lịch. Đây là dịp giỗ tổ Hùng Vương, nhân dân mở hội để tưởng nhớ tổ tiên mình, vừa để ghi nhớ người có công với dân làng.

Về sau do điều kiện kinh tế cũng để phù hợp với đời sống mới, mỗi năm nhân dân Phú Hà chỉ tổ chức lễ hội vào một ngày 10/3 với nghi thức chính là lễ rước nước.

Phần lễ: Trước đây vào ngày này dân làng dùng lễ Tam sinh, ngày nay lễ vật thờ được đơn giản thuận tiện gồm: xôi, rượu, thịt gà, thịt lợn, hoa quả, tiền vàng, hương nến. Khi lễ vật đã được chuẩn bị xong có một đội tế lễ vào bái thần, xin phép thánh mẫu, các vị tôn ông cùng các vị thần cho nhân dân được rước kiệu. chĩnh nước ngã ba Sông Luộc lấy nước mới về thờ (được gọi là nghi lễ rước nước). Tiếp đó các dòng họ trong làng cùng con cháu làm lễ dâng hương vào đền. Khi dâng hương xong, ban quản lý đền tập trung toàn bộ dân làng để bắt đầu nghi thức ra sông lấy nước. Đi đầu là đội múa lân, cờ quạt, võng lọng, tiếp là đội khiêng khám thờ. Làng cử những người đàn ông có uy tín để mặc áo quan tay vái đi trước khám thờ, đi kiểu ngược lùi cùng đội khiêng khám ra sông. Có một cô đầu cùng đội khiêng bàn có chĩnh nước cũ lấy từ năm ngoái đi theo đội khiêng khám ra sông. Cuối là đội cầm bát bửu, chấp kích cùng toàn thể dân làng. Ra tới ngã ba sông có hai chiếc thuyền rồng chờ sẵn ở đó. Đội khiêng khám xuống một thuyền, cô đầu với đội khiêng chĩnh nước xuống một thuyền. Tất cả đi ra giữa sông thì đốt hương khấn vái, xin phép thần sông cho lấy nước mới vào chĩnh. Lấy xong phân phát lộc rải ngay trên sông. Xong thì các thuyền lại quay về đền đưa chĩnh nước mới vào thờ. Nhân dân rước nước mới vào đền thờ, cầu xin thần phù hộ cho dân làng năm mới an lành, mùa màng bộ thu.

Phần hội: Khi nghi thức rước nước đã xong, nhân dân lại tập trung ở đền, cùng nhau tổ chức, vui chơi các trò chơi dân gian tại đền như: Đi cầu kiều,chọi gà, chơi cờ, kéo co, múa kỳ lân sư tử… Buổi chiều đó thì nhân dân cùng nhau khiêng khám thờ, bát bửu, chấp kích, võng lọng đi quanh làng. Đi tới đâu đội múa kỳ lân, võng lọng trống vang lừng tới đó. Nhân dân theo sau ai cũng vui mừng hớn hở. Ngày này mọi người trong làng đều ra đền dâng hương, cầu xin thánh mẫu phù hộ mọi điều may mắn cho con cháu.

Làng nghề và danh nhân

Cuộc thi dệt chiếu, sân chơi Văn Hóa Làng

 Làng Hải Triều (tức làng Hới) là một làng nghề truyền thống nổi tiếng với nghề làm chiếu Hới. Chiếu Hới còn gọi là chiếu Hưng Nhân theo tên huyện cũ, là chiếu Hưng Hà theo tên huyện mới. sản phẩm chiếu dệt thủ công của làng Hới từ lâu đã trở thành một sản phẩm tiêu biểu không chỉ của một địa phương nhỏ, mà của cả một tỉnh nông nghiệp loại lớn nhất ở đồng bằng Bắc Bộ và lưu vực sông Hồng. Nghề dệt chiếu Hới thịnh đạt lúc bấy giờ là nhờ công lao của Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ. Khi ông lớn lên, làng Hới đã có nghề dệt chiếu từ lâu. Nhưng chiếu dệt khung đứng, không có ngựa đỡ sợi nên chiếu không đẹp. Đi sứ sang Trung Quốc, khi qua vùng Ngọc Hà, Châu Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây, Phạm Đôn Lễ đã tìm hiểu và học được bí quyết kỹ thuật dệt chiếu của người Trung Quốc. Đó là kỹ thuật dệt khung nằm, có ngựa đỡ sợi dọc, làm cho sợi đay căng, chao cói nhanh hơn và chiếu đẹp hơn. Ông đã phổ biến kinh nghiệm và kỹ thuật dệt mới cho nhân dân.

Hiện nay Chiếu Hới có nhiều loại: chiếu cài hoa, chiếu trơn, chiếu cạp điều, chiếu đót…, nhưng chiếu gon là loại chiếu đặc biệt nhất. Qua thống kê năm 2008, toàn xã có 23 ngành nghề, tổng thu nhập ngành nghề và dịch vụ là 145.550,6 triệu. Trong đó công nghiệp là 106.748 triệu, dịch vụ đạt 38.802,6 triệu. Toàn xã có 10/14 thôn đã được Chủ tịch UBND tỉnh cấp bằng công nhận làng nghề. Tác động của làng nghề đến sự phát triển kinh tế của địa phương là rất lớn, giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động trong lúc nông nhàn. Lao động trong khu vực dân cư được sắp xếp theo quy trình khép kín từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ. Đã xuất hiện các mô hình hộ gia đình đầu tư vốn vào miền Nam mua cói ra kinh doanh bán cho các hộ chuyên dệt chiếu. Hiện toàn xã có 62 hộ lắp đặt gần 100 máy dệt chiếu, mỗi năm đưa ra thị trường tiêu thụ từ 38 – 42 triệu lá chiếu.

 tượng lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ tại Hải Triều

Hải Triều là quê hương của những danh nhân Nguyễn Thị Lộ (vợ Nguyễn Trãi, nên duyên với Nguyễn Trãi nhờ đi bán chiếu tại Thăng Long) và trạng nguyên Phạm Đôn Lễ (Trạng Chiếu).

 

Danh sách các thôn trong xã:

Thanh Triều, Hải Triều, Bùi Xá, Quan Khê, Lão Khê, Xuân Hải, Hà Xá, Hà Tân, Tân Hà, Phú Hà, An Tập, Tân Ấp.


 

Bài này do mình đóng góp thêm trên Wikipedia. có gì sai sót các bạn có thể vào đây để sửa hoặc bình luận dưới cho mình sửa. cám ơn các bạn.

688 total views, no views today

May 2 2012

Những danh nhân ở Hưng Hà

Bát Nàn Tướng Quân (Vũ Thị Thục) (Đinh Sửu 17 – Quí Mão 43)
Theo truyền thuyết và thần tích làng Tiên La, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình, cùng thần tích thờ miếu ở xã Phượng Lâu, huyện Phù Ninh, nay thuộc Vĩnh Phú (thần tích do danh thần thời hậu lê là Hàn Lâm đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn): Bát Nạn công chúa là vị anh hùng như thời Trưng Vương, Bà Vốn là con của Võ Công Chất và Hoàng Thị Mầu. Thân phụ bà là hào trưởng ở Phượng Lâu khi bà chào đời cha mẹ đặt tên là thục. Về sau bà nổi tiếng tài sắc, tục gọi là Thục nương. Bà có chồng là Phạm Danh Hương (có sách chép là vị Lạc hầu Trương Quán) quê ở Đức Bác (tức Liệp Trang, huyện Lập Thạch). Vợ chồng bà đều có lòng yêu nước, ngầm lo việc cứu nước giúp dân.
Bấy giờ có tên hào mục là Trần căm tức vì không cưới được Thục nương có ý “làm phản”, nên bắt giết đi.
Năm Kỉ Hợi 39, khi Đặng Thi Sánh bị giết ở Châu Diên, thì chồng bà cũng bị giết ở Duyên Hà. Quân Tô Định vây dinh trại, chồng bà bị hại, nửa đêm bà cầm dao sông đao, mở đường máu chạy đến làng Tiên La, vào chùa ẩn thân. Từ ấy, nặng nợ nước thù nhà bà quyết chí báo phục, đêm ngày chiêu tập hào kiệt dựng cờ khởi nghĩa. Năm Canh tí 40, tháng 3, Hai Bà Trưng lãnh đạo quân dân toàn quận phát động cuộc khởi nghĩa. Bà theo giúp cùng với nữ tướng Lê Chân thống lãnh quân tiên phong. Cứu quốc thành công, nước nhà độc lập, Trưng vương phong bà làm Bát Nạn đại tướng quân Trinh thục công chúa. Bà từ chối tước lộc, chỉ xin đem đầu giặc tế chồng một tuần. Tế xong, bà cởi bỏ nhung trang trở lại chùa làng Tiên La. Nhưng chẳng bao lâu nghe tin Mã Viện kéo binh sang, bà dấn chân cứu nước lần nữa. Chị em Trưng vương tuẫn quốc trong ngày 6 tháng 2, bà cũng tử tiết trong ngày 16 tháng 3 năm Quí mão 43.

TRẦN THỦ ĐỘ.
Trần Thủ Độ (1194-1264), là thái sư đầu triều nhà Trần, người có công sáng lập và là người thực tế nắm quyền lãnh đạo đất nước những năm đầu triều Trần, khoảng gần 40 năm, từ 1226 đến 1264. Trần Thủ Độ sinh tại làng Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, Việt Nam. Đánh giá về Trần Thủ Độ, có nhiều luồng dư luận trái chiều, ông là người có công sáng lập nhà Trần, ý kiến khác lại cho rằng ông là người đáng chê trách khi giết hại vua nhà Lý.

TRẦN THỊ DUNG – NỮ TƯỚNG HẬU CẦN ĐỜI NHÀ TRẦN.
Trần Thị Dung (?-1259) tên tục là Trần Thị Ngừ, con gái Trần Lý, là dòng họ có thế lực ở vùng đất Lưu Gia, Hải Ấp lúc bấy giờ (nay là xã Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).
Là hoàng hậu cuối cùng của nhà Lý, vợ vua Lý Huệ Tông, mẹ nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Việt Nam là Lý Chiêu Hoàng.
Sau khi Lý Huệ Tông mất, bà trở thành vợ thái sư Trần Thủ Độ.

AN SINH VƯƠNG TRẦN LIỄU.
Trần Liễu (1211-1251) là anh của Trần Thái Tông (vua đầu tiên của nhà Trần, Việt Nam) và là CHA của anh hùng dân tộc Việt Nam, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Ông sinh năm Canh Ngọ, niên hiệu Trị Bình Long Ứng thứ 6 (1210) tại phủ đệ Tinh Cương, phủ Long Hưng (Nay là xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình)
Tháng 8 âm lịch năm 1228, ông được em trai là vua Trần Thái Tông cho làm thái úy. Đến tháng 8 âm lịch năm 1234 làm phụ chính cho vua.

HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG – TRẦN QUỐC TUẤN.
Trần Hưng Đạo (1232 – 1300), còn được gọi là Hưng Đạo Vương, tên thật là Trần Quốc Tuấn là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất, và là nhà văn Việt Nam thời Trần.
Trần Hưng Đạo là con trai của An Sinh vương Trần Liễu, gọi vua Trần Thái Tông bằng chú ruột, và Công chúa Thụy Bà (chị ruột của vua Trần Thái Tông, và là cô ruột Trần Quốc Tuấn) là mẹ nuôi của ông. Nguyên quán ông ở xã Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình.
Ông là người có “dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người”, và nhờ “được những người tài giỏi đến giảng dạy” mà ông sớm trở thành người “đọc thông hiểu rộng, có tài văn võ”
Vì nước, quên thù nhà.
Không tham chức, biết gạt bỏ hiềm khích riêng.
Khéo tiến cử người tài giỏi, kính cẩn giữ tiết làm tôi.
Bị chọc vào đầu đến chảy máu, sắc mặt vẫn không thay đổi.

NGUYỄN THỊ LỘ – LỄ NGHI HỌC SĨ.
Nguyễn Thị Lộ (sinh 1400 hoặc 1390 – mất 1442), là vợ thứ của Nguyễn Trãi và là một nữ quan nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Tên tuổi bà từ lâu đã gắn liền với vụ thảm án Lệ Chi Viên xảy ra vào năm Nhâm Tuất (1442), dẫn đến cái chết của vợ chồng bà và cái án tru di tam tộc cho dòng họ.
Quê làng Hải Triều (còn gọi là Hải Hồ) tục gọi làng Hới, tổng Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tân Hưng (nay thuộc xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà).

PHẠM ĐÔN LỄ – ÔNG TỔ NGHỀ DỆT CHIẾU.
Phạm Đôn Lễ (1457 – ?), tự là Lư Khanh, quê làng Hải Triều (làng Hới) huyện Hưng Nhân (nay là xã Tân Lễ huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình), đỗ Trạng nguyên (Tam nguyên) khoa Tân Mùi (1481), niên hiệu Hồng Đức 12, đời vua Lê Thánh Tông, còn gọi là Trạng Chiếu hay Tam nguyên Đôn Lễ.
Ông đã đem các kỹ thuật dệt chiếu tiên tiến mà ông học được ở Quế Lâm tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, về truyền bá cho dân làng Hải Triều và dân các làng miền duyên hải trấn Sơn Nam Hạ.

LÊ QUÝ ĐÔN.
Lê Quý Đôn (1726 – 1784), tên thật Lê Danh Phương, là quan thời Lê trung hưng – chúa Trịnh, ông đồng thời cũng là một nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực.
Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ, niên hiệu Bảo Thái (Lê Dụ Tông) thứ 7 (tức 2 tháng 8 năm 1726), quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Đồng Phú, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và mất ngày 14 tháng 4 năm Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45 (tức 11 tháng 6 năm 1784).

NGUYỄN VĂN CẨM.
Kỳ Đồng tên thật là Nguyễn Văn Cẩm (1875 – 1929), người làng Trung Lập (theo cuốn Danh nhân Thái Bình thì quê ông là làng Ngọc Đình), phủ Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên, nay là xã Văn Cẩm huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình.
Ông vốn có tư chất thông minh từ nhỏ lại được cha, là nhà nho giỏi, dạy dỗ. Ông được chính phủ Pháp cấp học bổng sang học Trường trung học Alger, tốt nghiệp tú tài khoa học và văn chương. Ông có lẽ là Người Việt đầu tiên đỗ tú tài Pháp.
Kỳ Đồng có nghĩa là (Đứa trẻ kỳ tài) là tên gọi được vua Tự Đức sắc phong cho cùng với sớ “Tên này còn ít tuổi, chưa thể dùng được, nay giao tỉnh thần Hưng Yên dạy bảo, để khi lớn lên, nhà nước sẽ dùng.”

—-
Nguồn: Sưu tầm

472 total views, no views today