May 2 2012

Những danh nhân ở Hưng Hà

Bát Nàn Tướng Quân (Vũ Thị Thục) (Đinh Sửu 17 – Quí Mão 43)
Theo truyền thuyết và thần tích làng Tiên La, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình, cùng thần tích thờ miếu ở xã Phượng Lâu, huyện Phù Ninh, nay thuộc Vĩnh Phú (thần tích do danh thần thời hậu lê là Hàn Lâm đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn): Bát Nạn công chúa là vị anh hùng như thời Trưng Vương, Bà Vốn là con của Võ Công Chất và Hoàng Thị Mầu. Thân phụ bà là hào trưởng ở Phượng Lâu khi bà chào đời cha mẹ đặt tên là thục. Về sau bà nổi tiếng tài sắc, tục gọi là Thục nương. Bà có chồng là Phạm Danh Hương (có sách chép là vị Lạc hầu Trương Quán) quê ở Đức Bác (tức Liệp Trang, huyện Lập Thạch). Vợ chồng bà đều có lòng yêu nước, ngầm lo việc cứu nước giúp dân.
Bấy giờ có tên hào mục là Trần căm tức vì không cưới được Thục nương có ý “làm phản”, nên bắt giết đi.
Năm Kỉ Hợi 39, khi Đặng Thi Sánh bị giết ở Châu Diên, thì chồng bà cũng bị giết ở Duyên Hà. Quân Tô Định vây dinh trại, chồng bà bị hại, nửa đêm bà cầm dao sông đao, mở đường máu chạy đến làng Tiên La, vào chùa ẩn thân. Từ ấy, nặng nợ nước thù nhà bà quyết chí báo phục, đêm ngày chiêu tập hào kiệt dựng cờ khởi nghĩa. Năm Canh tí 40, tháng 3, Hai Bà Trưng lãnh đạo quân dân toàn quận phát động cuộc khởi nghĩa. Bà theo giúp cùng với nữ tướng Lê Chân thống lãnh quân tiên phong. Cứu quốc thành công, nước nhà độc lập, Trưng vương phong bà làm Bát Nạn đại tướng quân Trinh thục công chúa. Bà từ chối tước lộc, chỉ xin đem đầu giặc tế chồng một tuần. Tế xong, bà cởi bỏ nhung trang trở lại chùa làng Tiên La. Nhưng chẳng bao lâu nghe tin Mã Viện kéo binh sang, bà dấn chân cứu nước lần nữa. Chị em Trưng vương tuẫn quốc trong ngày 6 tháng 2, bà cũng tử tiết trong ngày 16 tháng 3 năm Quí mão 43.

TRẦN THỦ ĐỘ.
Trần Thủ Độ (1194-1264), là thái sư đầu triều nhà Trần, người có công sáng lập và là người thực tế nắm quyền lãnh đạo đất nước những năm đầu triều Trần, khoảng gần 40 năm, từ 1226 đến 1264. Trần Thủ Độ sinh tại làng Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, Việt Nam. Đánh giá về Trần Thủ Độ, có nhiều luồng dư luận trái chiều, ông là người có công sáng lập nhà Trần, ý kiến khác lại cho rằng ông là người đáng chê trách khi giết hại vua nhà Lý.

TRẦN THỊ DUNG – NỮ TƯỚNG HẬU CẦN ĐỜI NHÀ TRẦN.
Trần Thị Dung (?-1259) tên tục là Trần Thị Ngừ, con gái Trần Lý, là dòng họ có thế lực ở vùng đất Lưu Gia, Hải Ấp lúc bấy giờ (nay là xã Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).
Là hoàng hậu cuối cùng của nhà Lý, vợ vua Lý Huệ Tông, mẹ nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Việt Nam là Lý Chiêu Hoàng.
Sau khi Lý Huệ Tông mất, bà trở thành vợ thái sư Trần Thủ Độ.

AN SINH VƯƠNG TRẦN LIỄU.
Trần Liễu (1211-1251) là anh của Trần Thái Tông (vua đầu tiên của nhà Trần, Việt Nam) và là CHA của anh hùng dân tộc Việt Nam, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Ông sinh năm Canh Ngọ, niên hiệu Trị Bình Long Ứng thứ 6 (1210) tại phủ đệ Tinh Cương, phủ Long Hưng (Nay là xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình)
Tháng 8 âm lịch năm 1228, ông được em trai là vua Trần Thái Tông cho làm thái úy. Đến tháng 8 âm lịch năm 1234 làm phụ chính cho vua.

HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG – TRẦN QUỐC TUẤN.
Trần Hưng Đạo (1232 – 1300), còn được gọi là Hưng Đạo Vương, tên thật là Trần Quốc Tuấn là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất, và là nhà văn Việt Nam thời Trần.
Trần Hưng Đạo là con trai của An Sinh vương Trần Liễu, gọi vua Trần Thái Tông bằng chú ruột, và Công chúa Thụy Bà (chị ruột của vua Trần Thái Tông, và là cô ruột Trần Quốc Tuấn) là mẹ nuôi của ông. Nguyên quán ông ở xã Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình.
Ông là người có “dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người”, và nhờ “được những người tài giỏi đến giảng dạy” mà ông sớm trở thành người “đọc thông hiểu rộng, có tài văn võ”
Vì nước, quên thù nhà.
Không tham chức, biết gạt bỏ hiềm khích riêng.
Khéo tiến cử người tài giỏi, kính cẩn giữ tiết làm tôi.
Bị chọc vào đầu đến chảy máu, sắc mặt vẫn không thay đổi.

NGUYỄN THỊ LỘ – LỄ NGHI HỌC SĨ.
Nguyễn Thị Lộ (sinh 1400 hoặc 1390 – mất 1442), là vợ thứ của Nguyễn Trãi và là một nữ quan nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Tên tuổi bà từ lâu đã gắn liền với vụ thảm án Lệ Chi Viên xảy ra vào năm Nhâm Tuất (1442), dẫn đến cái chết của vợ chồng bà và cái án tru di tam tộc cho dòng họ.
Quê làng Hải Triều (còn gọi là Hải Hồ) tục gọi làng Hới, tổng Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tân Hưng (nay thuộc xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà).

PHẠM ĐÔN LỄ – ÔNG TỔ NGHỀ DỆT CHIẾU.
Phạm Đôn Lễ (1457 – ?), tự là Lư Khanh, quê làng Hải Triều (làng Hới) huyện Hưng Nhân (nay là xã Tân Lễ huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình), đỗ Trạng nguyên (Tam nguyên) khoa Tân Mùi (1481), niên hiệu Hồng Đức 12, đời vua Lê Thánh Tông, còn gọi là Trạng Chiếu hay Tam nguyên Đôn Lễ.
Ông đã đem các kỹ thuật dệt chiếu tiên tiến mà ông học được ở Quế Lâm tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, về truyền bá cho dân làng Hải Triều và dân các làng miền duyên hải trấn Sơn Nam Hạ.

LÊ QUÝ ĐÔN.
Lê Quý Đôn (1726 – 1784), tên thật Lê Danh Phương, là quan thời Lê trung hưng – chúa Trịnh, ông đồng thời cũng là một nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực.
Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ, niên hiệu Bảo Thái (Lê Dụ Tông) thứ 7 (tức 2 tháng 8 năm 1726), quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Đồng Phú, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và mất ngày 14 tháng 4 năm Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45 (tức 11 tháng 6 năm 1784).

NGUYỄN VĂN CẨM.
Kỳ Đồng tên thật là Nguyễn Văn Cẩm (1875 – 1929), người làng Trung Lập (theo cuốn Danh nhân Thái Bình thì quê ông là làng Ngọc Đình), phủ Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên, nay là xã Văn Cẩm huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình.
Ông vốn có tư chất thông minh từ nhỏ lại được cha, là nhà nho giỏi, dạy dỗ. Ông được chính phủ Pháp cấp học bổng sang học Trường trung học Alger, tốt nghiệp tú tài khoa học và văn chương. Ông có lẽ là Người Việt đầu tiên đỗ tú tài Pháp.
Kỳ Đồng có nghĩa là (Đứa trẻ kỳ tài) là tên gọi được vua Tự Đức sắc phong cho cùng với sớ “Tên này còn ít tuổi, chưa thể dùng được, nay giao tỉnh thần Hưng Yên dạy bảo, để khi lớn lên, nhà nước sẽ dùng.”

—-
Nguồn: Sưu tầm

518 total views, no views today

March 12 2012

HƯNG HÀ THÁI BÌNH – MIỀN QUÊ HUYỀN THOẠI

Video giới thiệu về các danh lam thắng cảnh của Miền Quê Huyền Thoại – Hưng Hà – Thái Bình.
Nguồn: Đài phát thanh truyền hình Huyện Hưng Hà


Giới thiệu chung

Hungha.gov.vn

Giới thiệu chung

Huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình được thành lập từ 1969 trên cơ sở sáp nhập 2 huyện Duyên Hà – Hưng Nhân và 5 xã của huyện Tiên Hưng cũ. Huyện nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Thái Bình, cách Thành phố Thái Bình khoảng 27 km. Toạ độ địa lý nằm trong khoảng 20o30’37’ đến 20o40’37’ vĩ độ Bắc và từ 106o06’00’ đến 106o19’22’ kinh độ Đông. Phía Bắc tiếp giáp huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam, phía Nam giáp huyện Vũ Thư, phía Đông giáp huyện Quỳnh Phụ và Đông Hưng. Tổng diện tích đất tự nhiên là 20.041,9 ha, dân số là 252.891 người được phân bố ở 33 xã và 2 thị trấn.

Hưng Hà là vùng đất cổ của tỉnh Thái Bình, năm 2000 tại xã Minh Tân đã tìm thấy 2 trống đồng loại lớn thuộc nền văn hoá Đông Sơn, các nhà khoa học đã khẳng định  trống đồng này đã có cách đây trên 2500 năm và được chế tác bởi cư dân nơi đây. Ngoài ra  các nhà khảo cổ còn tìm thấy các ngôi mộ Hán được chôn cất rải rác ở trong huyện, điều đó khẳng định rằng nơi đây có dân cư sinh sống khoảng trên 2500 năm trước.

Trong suốt chiều dài lịch sử trên vùng đất “địa linh nhân kiệt” này đã sinh ra những danh nhân, danh tướng làm rạng danh quê hương, đất nước. Từ những năm 40 của thể kỷ thứ nhất, Đông Nhung Đại Tướng Vũ Thị Thục đã về vùng Đa Cương Hương nay là xã Đoan Hùng và xã Tân Tiến chiêu tập binh mã dựng cờ khởi nghĩa cùng Bà Trưng đánh đuổi quân Đông Hán giành lại độc lập cho dân tộc. Vào thế kỷ thứ 13  con cháu họ Trần đã mang phần mộ cụ tổ về an táng tại Tam Đường xã Tiến Đức và từ mảnh đất này khởi nghiệp tạo dựng lên vương triều Trần với 3 lần chiến thắng quân Nguyên Mông. Nơi đây 4 đời Vua, các Hoàng hậu,  Công chúa đầu triều Trần đã yên nghỉ, nên Tam Đường chính là nơi Tôn miếu của nhà Trần. Trong mỗi lần xuất quân hay chiến thắng trở về, Vua tôi nhà Trần đều về đây làm lễ tế tổ. Vùng đất Hưng Hà còn là nơi sinh ra nhiều danh nhân, tuấn kiệt, tiêu biểu là: Thái Sư Trần Thủ Độ, Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung  –  những người có công tạo dựng và đưa nhà Trần phát triển rực rỡ trở thành một trong những vương triều cường thịnh bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Đó là Tam nguyên Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ, Lễ nghi học sỹ Nguyễn Thị Lộ ở xã Tân Lễ, Tiến sỹ Nhà văn hoá Nguyễn Tông Quai ở xã Hoà Tiến; Tam nguyên bảng nhãn Lê Quý Đôn – Nhà bác học lỗi lạc nhất của Việt Nam  thế kỷ 18 ở làng Phú Hiếu xã Độc Lập. Đó là những thủ lĩnh yêu nước trong phong trào chống Pháp như: Đốc Nhưỡng, Bang Tốn, Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm. Cũng chính nơi đây năm 1929 chi bộ Thần Duyên – một trong những chi bộ đầu tiên của tỉnh Thái Bình được thành lập đã lãnh đạo phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Những truyền thống tốt đẹp, những người con ưu tú của quê hương đã tạo nên Hưng Hà là vùng “địa linh”. Hiện nay toàn huyện còn lưu giữ được 552 di tích chiếm trên 1/4 tổng số di tích của toàn tỉnh, trong đó có 22 điểm di tích cấp quốc gia và 56 di tích cấp tỉnh. Điều đó chứng tỏ Hưng Hà vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa văn hiến hiếm nơi nào có được.

Hưng Hà không chỉ là vùng địa linh sinh người tài mà còn là vùng đất giầu truyền thống văn hoá và cách mạng. Trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược bảo vệ Tổ Quốc, Hưng Hà đã lần lượt tiễn đưa hàng vạn người con ra mặt trận, và đã có gần 6.000 người con ưu tú của quê hương ra đi mãi mãi không về, 3.484 thương, bệnh binh, 252 bà mẹ Việt Nam được tôn vinh Mẹ Việt Nam anh hùng.

I. VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ:

Hưng Hà một vùng quê được bồi đắp bởi 3 con sông lớn: sông Hồng, sông Luộc, sông  Trà, vì thế đã tạo lên những cánh đồng phì nhiêu màu mỡ, hệ thống giao thông nông thôn khá hoàn thiện, 3 trục đường lớn đang được xây  dựng và nâng cấp, đường 39A và đường 223 nối liền thị trấn Hưng Hà  qua Tịnh Xuyên sang Vũ Thư về Thành phố. Và đặc biệt là đường cao tốc nối từ Pháp Vân, Cầu Rẽ đi Hải Phòng sắp được xây dựng. Điều kiện về địa lý, giao thông thuận tiện với những tiềm năng sẵn có, con người và truyền thống lao động sản xuất sẽ là cơ sở là điều kiện cho sự phát triển kinh tế ở Hưng Hà.

1. Về  sản xuất nông nghiệp.

Đã hàng chục năm qua, Hưng Hà luôn đạt năng suất bình quân 13 tấn/ha, luôn là huyện có năng suất lúa dẫn đầu toàn tỉnh. Năm 2008 năng suất lúa đạt 134,15 tạ/ha. Người dân Hưng Hà tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào gieo cấy, chăm sóc bảo vệ lúa, đưa nhanh các giống lúa có năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện của từng địa phương vào sản xuất. Vì vậy huyện Hưng Hà trong hàng chục năm qua năng suất lúa đạt cao và luôn ổn định.

Điều  quan trọng sản xuất nông nghiệp ở Hưng Hà không chỉ là năng suất lúa cao mà còn là việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi để tăng giá trị thu nhập. Trong nhiều năm qua người dân Hưng Hà đều hiểu rằng nếu chỉ độc canh cây luá thì không thể vươn lên làm giầu được, vì vậy đã tích cực, mạnh dạn chuyển đổi một bộ phận diện tích cấy lúa kém hiệu quả sang trồng cây, nuôi con có hiệu quả hơn, hàng ngàn ha được chuyển sang chăn nuôi: lợn, cá, sản xuất rau màu có hiệu quả cao.

Cùng với hai vụ lúa, màu trong năm, Hưng Hà vẫn tiếp tục phát huy thế mạnh của mình là sản xuất vụ đông, là địa phương luôn luôn dẫn đầu toàn tỉnh về diện tích, giá trị sản xuất. Hàng năm diện tích vụ đông đều tăng, năm 2007-2008 diện tích gieo trồng đạt 6.390 ha chiếm 52% diện tích canh tác, vụ đông 2008-2009 điện tích là 7.437,9 ha chiếm 62% diện tích canh tác, điều đáng nói là cơ cấu cây trồng trong sản xuất vụ đông ngày càng phát triển  đa dạng theo chiều hướng tích cực. Nhiều loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao được đưa vào gieo trồng như: Bí đao, dưa quả các loại, cà chua Mỹ, cải xanh xuất khẩu, và đặc biệt là diện tích cây đậu tương tăng mạnh ở tất cả các xã, thị trấn.

Về  chăn nuôi, ở Hưng Hà đã được khai thác có hiệu quả. Đàn gia súc, gia cầm phát triển mạnh, một số vật nuôi có giá trị hàng hoá cao được đưa nhanh vào chăn nuôi như bò lai Sin, tổng đàn bò năm 2008 có 15.110 con, chủ yếu là bò lai Sin; tổng đàn lợn 155.610 con ( không kể lợn sữa ). Toàn huyện hiện có trên 1.371 trang trại, gia trại. Tận dụng thế mạnh người dân Hưng Hà đã đẩy mạng việc nuôi trồng thuỷ sản, mạnh dạn thả nuôi các loại giống mới như cá chép lai 3 dòng, cá Rô phi đơn tính… Diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2008 là 1.400 ha giá trị sản xuất đạt gần 50 tỷ đồng.

2. Về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.

Trong nhiều năm qua Hưng Hà đã tập trung vào phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Vì thế luôn là huyện dẫn đầu khối huyện của tỉnh, về giá trị thu nhập trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Nhờ phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mạnh mẽ nên cơ cấu kinh tế đã bước phát triển theo hướng tích cực, giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng nhanh, thu hút được nhiều lao động vào làm việc. Hiện nay toàn huyện có 165 doanh nghiệp các loại, có 42 làng, 2 xã được tỉnh công nhận là làng nghề, xã nghề.

Nhiều xã trong huyện tiếp tục phát triển những nghề truyền thống cho giá trị thu nhập cao. Nghề dệt bông vải từ làng Phương La nay đã phát triển ra 12 xã trong huyện với 4.670 máy dệt. Nghề dệt chiếu cũng là nghề truyền thống của huyện: “ăn cơm hom, nằm giường hòm đắp chiếu Hới” xưa từ làng Hới nay đã phát triển ra toàn xã Tân Lễ, và các xã lân cận, hàng năm sản xuất trên 10 triệu lá chiếu các loại, sản phẩm chiếu  được đưa đi khắp các miền tổ quốc.

Hưng Hà còn có nhiều nghề khác phát triển với quy mô khá lớn. Toàn huyện có 44 nghề các loại, hàng năm tạo ra nhiều sản phẩm và cho thu nhập cao như: Nghề mộc, nghề mây tre đan, làm lưới ni lông, nghề làm nón, nghề cơ khí nông nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, nghề làm thảm đệm, nghề sản xuất hạt nhựa…. Hiện nay toàn huyện đã có 3 cụm công nghiệp đang hoạt động và ngày càng được mở rộng: Cụm công nghiệp Phương La, cụm công nghiệp Đồng Tu – Phúc Khánh, cụm công nghiệp thị trấn Hưng Nhân và đang tiếp tục quy hoạch một số điểm công nghiệp: xã Minh Tân, xã Điệp Nông….

Nhờ có hệ thống làng nghề và hàng vạn lao động sản xuất trong các làng nghề và doanh nghiệp, nên năm 2008 giá trị thu từ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản đạt 1.047,4 tỷ đồng tăng 25,15% so với 2007 chiếm 48,23% giá trị kinh tế toàn huyện, dự kiến năm 2009 là 1.250 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 51,98%.

II. LĨNH VỰC VĂN HOÁ-THÔNG TIN VÀ THỂ THAO

Hưng Hà là huyện có bề dày truyền thống văn hoá, văn hiến, yêu nước và cách mạng, trong nhiều năm qua những truyền thống đó luôn được khai thác và phát huy. Hệ thống các thiết chế văn hoá trong toàn huyện được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân: Toàn huyện có 34/35 nhà văn hoá xã, 234 nhà văn hoá thôn làng, trên 400 câu lạc bộ các loại, gần 300 tổ nhóm văn nghệ, lưu giữ được 552 di tích trong đó có 22 di tích quốc gia, nhiều di tích không chỉ nổi tiếng trong tỉnh mà còn nổi tiếng trên toàn quốc. Xã Hồng Minh có 2 di tích  quốc gia: Đình Thọ Phú, đình, đền Xuân Lôi thờ Vua Lý và Triệu Quang Phục. Từ đường  nhà bác học Lê Quý Đôn, lăng cụ Lê Trọng Thứ, tới đây huyện Hưng Hà sẽ xây dựng khu lưu niệm Lê Quý Đôn diện tích 10 ha; Đền thờ Bác Hồ tại xã Hồng An nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm 2 lần, cũng đang được nâng cấp. Quần thể di tích nhà Trần tại thôn Tam Đường xã Tiến Đức với tổng diện tích 22 ha đang được xây dựng và hoàn thiện, tại nơi đây còn lưu giữ được lăng mộ của cụ tổ, 4 đời vua và hoàng hậu ,công chúa đầu triều Trần. Đền thờ Tam nguyên Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ, Lễ nghi học sỹ Nguyễn Thị Lộ tại làng Hải Triều xã Tân Lễ, khu đền, lăng Thái sư Trần Thủ Độ, Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung tại xã Liên Hiệp nay đang được hoàn thiện. Đền, chùa, miếu làng Diệc xã Tân  Hoà; di tích nghệ thuật cấp Quốc gia thể hiện bàn tại trạm trổ tài hoa của những nghệ nhân nghề mộc làng Diệc; quần thể di tích thờ Đông Nhung đại tướng quân  nằm dọc bờ sông Tiên Hưng thuộc xã Đoan Hùng và xã Tân  Tiến. Đó là những điểm đến hấp dẫn với du khách, hàng năm thu  hút hàng chục vạn người tới thăm  quan và thưởng ngoạn.

Trong truyền thống văn hoá của quê hương, không  chỉ có bề dày văn hoá vật thể mà văn hoá phi vật thể khá đậm đặc: chèo Hà Xá một trong 3 chiếu chèo nổi tiếng của Thái Bình nay đang được phát huy; Hội Long Vân trước kia chỉ có ở xã Độc Lập nay đã phát triển ra nhiều xã; Hội thi cỗ cá đang được phục hồi tại xã Tiến Đức; pháo đất tại xã Chi Lăng, Hoà Bình; múa tứ linh, đi cầu kiều, chọi gà, cờ tướng, vật và hàng chục trò chơi khác đang được phục hồi và phát triển.

Phong trào xây dựng đời  sống văn hoá ở Hưng Hà phát triển khá vững chắc. được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, trở thành phong trào sâu rộng trong huyện. Hết 2008 toàn huyện có 78 thôn làng, 64 cơ quan đơn vị với 253 lượt được công nhận đơn vị văn hoá. Hàng năm có từ 65-70% số hộ trong huyện đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, hàng trăm dòng họ có từ đường, xây dựng được quy ước và công nhận là dòng họ văn hoá.

Hệ thống thư viện hoạt động khá tốt nhiều năm là đơn vị dẫn đầu toàn tỉnh. Hiện nay Hưng Hà có một thư viện huyện với 11.000 đầu sách, 28 loại báo và tạp chí, 73 thư viện trường học. 35 tủ sách pháp luật, 8 trạm sách và 2 thư viện xã đang hoạt động có hiệu quả.

Hệ thống thông tin, bưu chính, viễn thông ở Hưng Hà cũng khá phát triển, hiện nay toàn huyện có 35 đài truyền thanh các xã, thị trấn trong đó có 14 đài truyền thanh không dây đã và đang xây dựng, có 50 trạm BTS, 29 điểm bưu điện văn hoá và 5 bưu cục, việc nối mạng internet tới tất cả cơ quan trường học đang được tiến hành.

Hoạt động thể thao đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày với các tầng lớp nhân dân trong huyện. Năm 2008 toàn huyện  có trên 24% dân số, 14% số gia đình thường xuyên tập luyện thể dục, thể thao, hàng năm huyện tổ chức từ 15-18 giải thể thao, ở cấp xã từ 130-150 giải. Nhiều năm qua thể thao thành tích cao đã được quan tâm và là một trong huyện có thành tích cao trong các kỳ thi tại tỉnh, đặc biệt là một số môn: môn bơi 11 năm liên tục dẫn đầu tỉnh, các môn điền kinh, bóng đá thiếu niên, nhi đồng, bóng chuyền nữ liên tục đứng ở tốp đầu và nhiều năm xếp thứ nhất, hàng năm nhiều câu lạc bộ thể thao lần lượt được thành lập. Vì vậy trong 7 năm qua liên tục là đơn vị dẫn đầu toàn tỉnh, được Ủy ban thể dục thể thao nhà nước, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tặng cờ Đơn vị thi đua xuất sắc.

III. NGÀNH Y TẾ

Hưng Hà là huyện có mạng lưới cơ sở hạ tầng khá đồng bộ và phát triển. Về tổ chức gồm: phòng Y tế, Trung tâm Y tế huyện, 2 bệnh viện đa khoa, 35 trạm Y tế xã, thị trấn, với tổng số 365 giường bệnh, trong đó ở tuyến huyện là 190 giường bệnh đạt tỷ lệ 14,5 giường/1000 dân. Tổng biên chế của toàn ngành là 402 người, tuyến huyện là 211, tuyến xã 191, trong dó có 84 bác sỹ, công tác tại huyện là 62( trong số 84 bác sỹ có 2 thạc sỹ, 25 bác sỹ chuyên khoa I, 19 bác sỹ chuyên khoa sơ bộ, đạt tỷ lệ 3.2 bác sỹ/1000 dân), dược sỹ đại học có 3 người. Hệ thống cán bộ Y tế cơ sở được củng cố hoàn thiện, hiện nay có 262 cộng tác viên ở các thôn, làng đã và đang được đào tạo chuyên môn có trình độ sơ cấp trở lên.

Về cơ sở vật chất: Bệnh viện đa khoa Hưng Hà và bệnh viện đa khoa Hưng Nhân đang được xây dựng và hoàn thiện, chỉ tính riêng năm 2009, 2 bệnh viện đã được nhà nước đầu xây dựng 17,6 tỷ đồng. Trang thiết bị trong 2 bệnh viện được nâng cấp, 2 bệnh viện đều có siêu âm màu phục vụ nhân dân: tháng 8 đầu năm 2009 đầu tư gần 3 tỷ đồng cho trang thiết bị. Ở khối xã hiện nay có 19/35 trạm xá xã đạt Chuẩn Quốc gia về y tế.

Trong nhiều năm qua cùng với việc xây dựng nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh, thì các hoạt động y tế dự phòng được thực hiện tốt, từ huyện đến cơ sở luôn chủ động tham mưu và thực hiện kế hoạch phòng bệnh, giám sát và phát hiện kịp thời. Vì vậy trên địa bàn không có dịch lớn xẩy ra, các hoạt động vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, phòng chống HIV/AIDS, công tác y tế học đường và quản lý các bệnh xã hội thực hiện khá tốt từng bức đưa các hoạt động này vào nề nếp.

Công tác khám chữa bệnh được các cấp ủy Đảng chính quyền chăm lo, toàn huyện có 42% số dân có thẻ bảo hiểm y tế, hàng năm 2 bệnh viện khám  cho trên 200.000 lượt bệnh nhân, điều trị gần 19.000 lượt người, công suất sử dụng giường bệnh của 2 bệnh viện đạt 150%. Ở tuyến xã hàng năm khám cho trên 250.000 lượt và tổ chức điều trị tại trạm y tế 10.000 lượt bệnh nhân. Ý thức trách nhiệm, tinh thần phục vụ của y bác sỹ ngày càng được nâng cao từng bước thực hiện lời Bác Hồ dạy: “Lương y như từ mẫu”.

III. NGÀNH GIÁO DỤC ĐÀO ĐẠO

Hưng Hà là địa phương có nền giáo dục khá phát triển, nơi đây có truyền thống văn hiến, truyền thống hiếu học. Thời phong kiến trong tổng số 111 vị đại khoa của Thái Bình thì Hưng Hà có 21 người chiếm 18,91% của tỉnh. Đặc biệt trong đó có 2 người đỗ đầu 3 kỳ thi (thi Hương, thi Hội, thi Đình) thì đều ở Hưng Hà đó là Tam nguyên Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ quê ở làng Hải Triều xã Tân Lễ, Tam nguyên Bảng nhãn Lê Quý Đôn quê ở làng Phú Hiếu xã Độc Lập. Truyền thống hiếu học của người dân Hưng Hà xưa thể hiện khá rõ nét không chỉ ở việc học hành khoa cử mà cón ở việc quan tâm của xã hội tới việc học, nhiều người nhờ có học mà thành danh.

 

Ngày nay Hưng Hà đã, đang phấn đấu đưa giáo dục phát triển cả bề rộng, chiều sâu, để người người học tập, nhà nhà học tập, học trong trường và học ngoài nhà trường, vì thế giáo dục Hưng Hà đã có những bước phát triển mới.

Về cơ sở vật chất: Hiện nay toàn huyện có 36 trường mầm non, 36 trường tiểu học, 34 trường THCS, 5 trường PTTH, một trung tâm giáo dục thường xuyên và 1 trung tâm hướng nghiệp dạy nghề; hệ thống các trường học đã và đang được cao tầng hóa, 6/36 trường mầm non, 36/36 trường tiểu học, 12/34 trường THCS đạt chuẩn Quốc gia ở mức độ 1 và 2. Năm 2001 Hưng Hà là 1 trong những huyện đầu tiên của tỉnh phổ cập THCS.

Về đội ngũ giáo viên: Hiện nay 3 ngành học (Mầm non, Tiểu học, THCS) có 3.056 giáo viên, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ngày càng tăng. Tiểu học có 97.7% đạt chuẩn, trên chuẩn chiếm 84,6%. THCS có 99,6% giáo viên đạt chuẩn, trong đó có 30,5 đạt trên chuẩn: Năm 2007-2008 với khối tiểu học có 217 giáo viên giỏi cấp huyện, 6 giáo viên giỏi cấp tỉnh, năm học 2008-2009 giáo viên giỏi cấp huyện có 180, cấp tỉnh có 6. Khối THCS năm 2007-2008 có 197 giáo viện giỏi cấp huyện và 13 giáo viên giỏi cấp tỉnh, năm học 2008-2009 có 130 giáo viên giỏi cấp huyện và 15 giáo viên giỏi cấp tỉnh.

Về chất lượng học tập của học sinh, năm 2008 toàn huyện 3 ngành học có 48.015 học sinh. Hàng năm tỷ lệ lên lớp, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp khá cao, việc học tập dần đi vào thực chất hóa, chất lượng đại trà có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng học sinh giỏi ngày càng được khẳng định. Với khối tiểu học năm 2007-2008 có 726 em đạt giỏi cấp huyện, 10 em giỏi cấp tỉnh, năm học 2008-2009 có 848 em giỏi cấp huyện, 10 em giỏi cấp tỉnh. Khối THCS năm học 2007-2008 học sinh giỏi cấp huyện có 2.015 em và 48 em giỏi cấp tỉnh. Năm học 2008-2009 có 1.756 em giỏi cấp huyện trong đó có 43 em giỏi cấp tỉnh.

Cùng với việc học tập trong các ngành học phổ thông, Hưng Hà tổ chức thực hiện việc toàn xã hội học tập, thông qua các trung tâm học tập cộng đồng. Hiện nay toàn huyện có 35 trung tâm học tập cộng đồng thường xuyên tổ chức các lớp học phổ biến khoa học kỹ thuật sản xuất nông  nghiệp, dạy và phát triển nghề mới, chăm sóc sức khỏe, kiến thức phòng chữa bệnh, nuôi dạy con, vệ sinh môi trường, đường lối chính sách pháp luật và những thông tin khác, góp phần đem đến cơ hội học tập cho mọi người, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần cho nhân dân. Ngoài việc học tập về kiến thức văn hóa, ở Hưng Hà rất quan tâm chú trọng đến dạy nghề, hàng năm trung tâm hướng nghiệp dạy nghề tổ chức đào tạo nghề mới cho hàng trăm lao động, tổ chức hướng dẫn cho hàng ngàn học sinh các trường THPT…

Tuy còn nhiều khó khăn song sự nghiệp giáo dục Hưng Hà đang cố gắng nỗ lực từng bước nâng cao chất lượng dạy và học, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để đưa được sự nghiệp giáo dục của huyện ngày càng phát triển xứng đáng là quê hương Nhà bác học với câu nói nổi tiếng: ”Phi trí bất hưng”./.

516 total views, no views today

January 17 2012

Các làng nghề truyền thống tại Thái Bình

Nghề chạm bạc ở Đồng Xâm

Làng nằm ở phía Bắc của huyện Kiến Xương, thuộc xã Hồng Thái. Đây là một làng nghề chạm khắc trên mặt kim loại. Theo người làng kể lại cách đây hơn 300 năm có nghệ nhân nghề chạm bạc tên là Nguyễn Kim Lâu theo thuyền dọc sông Trà Lý về lập nghiệp ở đây. Ông đã truyền nghề chạm bạc cho dân làng. Trải qua nhiều thời kỳ đến nay nghề vẫn được duy trì và ngày càng phát triển. Sau khi ông mất, để tưởng nhớ đến công lao của ông, họ đã lập đền thờ ông ở ngay làng gọi là đền Đồng Xâm Chạm bạc Ðồng

Nghề thêu

Ngày xưa, hàng thêu chủ yếu phục vụ các nhà giàu sang quyền quí, đền chùa và phường tuồng. Kỹ thuật thêu cũng đơn giản, quanh quẩn chỉ có 5 mầu chỉ: xanh, đỏ, tím, vàng, lục. Ngày nay, ngoài việc sử dụng thông thường trong may mặc, đồ thêu còn được sử dụng mang tính chất trang trí mỹ thuật, nguyên liệu đa dạng hơn như xa tanh, chỉ tơ, thuốc nhuộm nhiều màu nên nghề phát triển, kỹ thuật tinh xảo và ra đời loại thêu hàng trắng, hàng nổi, thêu kết hợp dua, ren.

Những mặt hàng mới đáp ứng nhu cầu thị hiếu của thời đại: mặt gối, áo, kimônô, khăn trải giường,.. nhưng tinh xảo nhất phải là tranh thêu chân dung, phong cảnh. Bằng cây kim và sợi chỉ người thợ đã vẽ nên chân dung phong cảnh đầy sinh động. Thái Bình có những làng nghề thêu nổi tiếng như thêu ren Minh Lãng…

 

Nghề trồng vườn ở Bách Thuận

Làng cách thị xã Thái Bình khoảng 40 km, thuộc huyện Vũ Thư. Đây là một làng vườn trù phú, rìa làng là bãi phù sa nơi trồng dâu nuôi tằm và chuối, mía. Trong làng là những vườn cây ăn quả, cây cảnh. Đến Bách Thuận, du khách như lạc vào một công viên thu nhỏ với đủ các gam màu đậm nhạt … Dọc hai bên đường làng là màu xanh thẫm của ngâu và màu xanh tươi của hòe. Thiên nhiên đã ưu đãi cho Bách Thuận phát triển nghề vườn truyền thống.
Ở đây có đủ các loại hoa, quả bốn mùa: táo, ổi roi, mận, chanh, nhãn, vãi, hồng xiêm, cam, quít, chuối, mít… bên cạnh những vườn cây ăn quả, cây thế. Mỗi loại cây cảnh đều mang một dáng nét riêng với nhưõng tên gọi khác nhau tùy theo sự uốn tỉa của chủ nhân.

Vào dịp nước lên, đường làng Bách Thuận ngập nước, biến thành nhưõng dòng sông nhỏ, từ nhà nọ muốn sang nhà kia đều đi bằng thuyền. Thật tuyệt vời khi du khách được ngồi trên nhưõng con thuyền nhỏ thăm vườn cảnh, với tay hái nhưõng chùm quả trĩu ngọt để thưởng thức hương vị hoa quả làng vườn.

Nghề dệt chiếu và chiếu Hới

Ăn cơm hom, nằm giường hòm, đắp chiếu Hới“, chiếu làng Hới nổi tiếng do sự se, mềm, dễ giặt, mau khô, thoát nước nhanh, trải nằm mát mùa hè, đắp ấm mùa đông. Người có công trong nghề làm chiếu là ông Phạm Đôn Lễ (quan thời Tiền Lê 980 – 1009), người làng Hới đã học nghề làm chiếu ở Quảng Tây – Trung Quốc trong thời gian ông đi sứ và đã dạy cho dân làng. Các sản phẩm chiếu của làng Hới dệt ra như chiếu cải, chiếu đơn, chiếu đót, trơn, cạp điều có họa chi tiết trang trí đẹp và khách hàng ưa chuộng. Ngoài chiếu Hới (Hưng Hà) còn có chiếu An Trang, An Vũ (Quỳnh Phụ), Vô Song, Kỳ Hội (Đông Hưng),…

Dệt vải và tơ tằm

Đây là nghề phổ biến nhất, đi cùng với nghề nông thành nghề “nông tang”, “tằm tơ canh cửi”. “Lụa Bộ La, là Sóc, đũi Ngọc Đường”, vải Bơn, vải Bái, lụa Nguyễn,… là những cái tên trở nên quen thuộc.

 

CÁC ÔNG TỔ NGHỀ ĐƯỢC THỜ Ở THÁI BÌNH

Tổ nghề, còn được gọi là tổ sư hay thánh sư, là người sáng lập – gây dựng hoặc đem nghề từ nơi khác về truyền thụ cho dân làng. Ban đầu có thể một làng thờ sau nghề được truyền bá rộng thì nhiều nơi thờ. Tục thờ tổ nghề bắt nguồn từ đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc Việt. Tổ nghề thường được thờ ở các đền miếu, người được suy tôn là Thành hoàng được thờ ở đình làng nhưng có tổ nghề được thờ ngay ở trong tư gia của các ông trùm phường.

Tổ nghề trồng dâu, nuôi tằm, kéo tơ…

Bà có tên là Phạm Thị Xuân Dung, còn gọi là “Ả Lã Phương Dung công chúa” (mỹ tự do vua phong tặng). Tương truyền bà theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống Hán, sau thắng lợi bà về làng ThuậnVy mở đất, dạy dân trồng dâu nuôi tằm. Những người cùng theo bà về mở đất đều lấy theo họ bà. Sau khi bà mất dân làng Thuận Vy lập đền thờ với ý thức thờ tổ nghề đồng thời thờ bà làm tổ họ Phạm. Đền thờ bà hiện vẫn còn 11 đạo sắc phong thần.

Tổ nghề bèo dâu và đúc đồng

Ông có tên là Nguyễn Chí Thành sống vào thời Lý, quê gốc ở Gia viễn – Ninh bình, từng thụ giới ở chùa La miên ( La vân, Quỳnh hồng, Quỳnh phụ). Ông được phong làm Quốc sư nhờ chữa bệnh cho vua Lý thần tông. Dân làng La vân lưu truyền lại rằng ông cho dân làng giống bèo hoa dâu, nhân giống để nuôi trên đồng ruộng vào vụ đông – xuân, bèo có tác dụng giữ nước cho mát chân lúa, hạn chế cỏ mọc, bèo chết làm phân bón ruộng. Vì vậy dân làng La vân lập đền thờ ông làm thành hoàng. Ông còn có công dạy dân nghề đúc đồng nên dân Ngũ xá ( Hà nội), An lộng (Quỳnh phụ) tôn ông làm tổ nghề đúc đồng.

Tổ nghề rèn sắt

Làng An tiêm, xã Thuỵ dân, huyện Thái thuỵ thờ tổ nghề rèn với vị hiệu “Dã tượng tiên sư”. Dã tượng tiên sư dạy cho 7 tổ thợ rèn làng Cao dương (Thuỵ hưng). Nơi đây còn di chỉ của một công trường rèn sắt thời Trần. Tương truyền là công trường rèn vũ khí của Hưng đạo vương Trần quốc tuấn trong cuộc kháng chiến chống Mông nguyên 1285-1288.

Tổ nghề đan dành

Bà có tên là Phương dung sống vào thời Trần. Khi Huyền trân công chúa thực hiện lời vua cha vào làm dâu vua Chiêm, bà được theo hầu. Những ngày sống ở Chiêm thành bà thấy dân ở đây đan gùi để gùi hàng trên vai rất tiện.. Trở về quê, bà đem nghề đan gùi cải tiến thành đan thành dành dùng đựng thóc, ngâm giống rất tiện lợi. Lúc đầu chỉ có dân làng dùng, sau nhiều người ưa chuộng tìm đến mua, từ đó làng có tên là làng Dành. Từ làng Dành nghề đan dành được truyền sang làng Moi(Phong xá), hàng được bán khắp nơi.

Sau khi bà mất dân làng Dành (An ninh) và làng Moi(Phong xá) huyện Quỳnh phụ lập đền thờ bà. Bà còn được thờ cùng Huyền trân công chúa ở làng Vân đài, xã Chí hoà. Bà được phong Đại vương.

Tổ nghề dệt chiếu

Trạng nguyên Phạm đôn lễ người làng Hải triều – tổng Thanh triều (nay thuộc xã Tân lễ, huyện Hưng hà) . Năm 1484 ông dẫn đầu đoàn sứ bộ Đại việt sang nhà Minh. Đi đến châu Quế lâm, thấy ở đây dân có nghề dệt chiếu đẹp, nhanh hơn ở quê, ông đã tìm cách học bí quyết của nghề. Khi về nước ông đem những hiểu biết của mình dạy dân cải tiến khung dệt, nhuộm sợi, chẻ cói, xé đay… Chiếu Hới được cải tiến dệt nhanh, bền, đẹp nên được nhiều người ưa chuộng. Hàng bán chạy, dân no đủ.. Dân làng Hới lập đền thờ, coi ông là tổ của nghề dệt chiếu. Đền ấy đến nay vẫn còn, vẫn tổ chức hội trình nghề hàng năm – trong lễ hội có trưng bày các loại chiếu.

Tổ nghề gai vó

Vó Vạn đồn ( Thuỵ hồng) nổi tiếng đã đi vào tục ngữ, ca dao ” gà Tò, lợn Tó, vó Vạn đồn” nhưng Vạn đồn không thờ tổ nghề gai vó. Bà Nhất nương họ Nguyễn con gái làng Vạn đồn về làm dâu họ Phạm phúc ( năm 1550) ở làng Nang ( Nam huân, Kiến xương) đã đem nghề gai vó truyền dạy cho dân làng Nam huân. Nghề đan vó, lưới.. rất phát đạt, hàng được bán đi nhiều nơi trong nước, ra cả nước ngoài, nhờ đó dân làng Nam huân no đủ… Sau khi bà mất, dân làng xây mộ đá ( rộng gần 100 m2) lập đền thờ bà, coi bà là tổ nghề gai vó.

Tổ nghề gầu gai

Ông tên là Phạm sinh, cũng có tên là Phạm tú châu, quê làng Giai (Thanh trai, Minh lãng). Ông được điều vào quân đi Thanh Nghệ đánh nhau với quân của Lê duy mật. Ông có sáng kiến dùng mèo làm kế hoả công (nên có biệt danh là Quận mèo), rồi lại dùng gầu tát nước dập lửa. Qua chiến trận, ông lấy nứa đan gầu, lấy vầu làm lưỡi gầu luồn dây để hai người cùng tát vừa nhẹ nhàng vừa được nhiều nước. Gầu gai là công cụ chủ yếu của người nông dân trong mùa vụ. Sau chiến thắng, ông được phong “Phấn dũng tướng quân”. Ông không tiếp tục con đường binh nghiệp mà xin về quê. Ông đem nghề đan gầu dạy cho dân làng. Gầu làng Giai trở thành tên gọi và nổi tiếng. Khi ông mất dân làng Giai lập đền thờ ông. Đền đến nay đã bị phá nhưng dân gian vẫn nhớ về ông.

Tổ nghề kim hoàn

Nguyễn kim lâu vốn xuất thân từ nghề “bổ trữ đồng oa” tức hàn xong nồi, lên châu Bảo long học được nghề kim hoàn. Về làng ông mở xưởng dạy nghề cho dân làng Đồng xâm, sau nghề phát triển ra cả tổng Đường thâm nhưng cái tên Đồng xâm quá nổi tiếng nên người ta đều gọi là Đồng xâm. Nghề kim hoàn Đồng xâm nổi tiếng về sự tinh xảo. Từ Đồng xâm – Thái bình, nghề được truyền và mở những cơ sở sản xuất ở cácc thành phố lớn trong nước, thợ kim hoàn Đồng xâm cũng đi khắp nước làm nghề. Nhớ công ơn ông, sau khi ông mất dân làng Đồng xâm lập đền thờ, khắc bia đá để ghi công. Ông cũng được coi là tổ nghề kim hoàn của Việt nam.

Tổ nghề biểu diễn

Giới sân khấu suy tôn bẩy tổ nghề trên vùng đất Thái bình nay xác định có ba tổ nghề, đó là các ông Đào văn só, Đặng hồng lân và bà Đào nương. Các làng chèo nổi tiếng của Thái bình xưa ( Khuốc, Hà xá, Sáo đền) đều lập bài vị thờ hai ông Đặng hồng lân và Đào văn só. Bà Đào nương được thờ ở đền Bách thần, phủ Thái bình , nay là thị trấn Châu giang nhưng đền đã bị phá. Bà được dân làng Hoàng quan xã Đông phong thờ làm thành hoàng. Sắc phong thần cho bà của vua Lê cảnh hưng ghi rõ xuất xứ của bà “cầm bà thi nữ” ( người con gái đẹp, giỏi đàn hát). Bà được sắc phong là thượng đẳng thần, đền thờ bà mới được tu sửa

464 total views, 1 views today

August 16 2011

Giới thiệu trường THCS Phạm Đôn Lễ

*Nhóm facebook nơi giao lưu cán bộ giáo viên và học sinh:
http://facebook.com/groups/thcsphamdonle

*Fanpage do thầy Tuấn – Phó hiệu trưởng quản lý:

https://facebook.com/THCSPhamDonLe

* Trang chủ:

http://pgdhungha.edu.vn/thcs-phamdonle/

 

 

+Giới thiệu:
Trường THCS Tân Lễ được thành lập năm 1967 theo quyết định của UBND huyện Hưng Hà do hai trường PTCS Tân Mỹ và PTCS Phạm Lễ hợp thành, lúc đó trường có tên là trường PTCS Tân Lễ. Năm 1993 trường được tách ra từ trường PTCS Tân Lễ. Trường thuộc địa phận xã Tân Lễ, phía Bắc giáp sông Luộc, phía Đông giáp xã Canh Tân, phía Nam giáp Thị trấn Hưng Nhân, phía Tây giáp sông Trà Lý. Đến tháng 8 năm 2011 trường được đổi tên thành trường THCS Phạm Đôn Lễ theo quyết định 6600/UBND huyện Hưng Hà. Xã Tân Lễ có 14 thôn với 13000 nhân khẩu, trong đó có 2 thôn theo đạo thiên chúa giáo; là mảnh đất có truyền thống lịch sử văn hóa và cách mạng lâu đời, nổi tiếng với những danh nhân văn hóa như trạng nguyên Phạm Đôn Lễ, lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ… Trường có diện tích 8800m2, có 18 phòng học, 2 phòng học bộ môn, 1 phòng thư viện, 1 phòng Tin học, 1 phòng thiết bị, 1 phòng Đoàn-Đội, 1 dãy nhà hiệu bộ.

Năm học 2010 – 2011 trường có 20 lớp với 667 học sinh. Tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường là 50. Trong đó Đảng viên là: 24; có 35 cán bộ giáo viên, nhân viên trình độ trên chuẩn đạt tỷ lệ 68,6%; 16 cán bộ giáo viên, nhân viên có trình độ chuẩn đạt tỷ lệ 31,4%. Trường có 13 thày cô đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi các cấp, trong đó 1 cô được công nhận giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, 11 thầy cô được công nhận danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện, 2 thầy cô được công nhận giáo viên dạy giỏi cấp trường. Toàn trường có 161 em học sinh đạt học sinh giỏi các cấp; 100% học sinh tốt nghiệp THCS; 98,5% học sinh được lên lớp thẳng.

Danh hiệu thi đua trường đã đạt được: Tập thể LĐTT cấp tỉnh, cấp huyện. Chất lượng giảng dạy của nhà trường luôn giữ ổn định.

Năm học 2011 – 2012 trường có 21 lớp với tổng số 702 học sinh. Tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường là 51, thầy giáo Trần Ngọc Sáng-Hiệu trưởng; thầy giáo Vũ Anh Tuấn-Phó hiệu trưởng; thầy giáo Tô Quang Cảnh-Chủ tịch Công đoàn. Tập thể cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường quyết tâm phấn đấu năm học 2011 – 2012 trường đạt được kết quả cao hơn năm học trước.

Địa chỉ: Xã Tân Lễ – huyện Hưng Hà – tỉnh Thái Bình.

813 total views, no views today

February 5 2011

Trường THPT Hưng Nhân – 45 năm xây dựng và trưởng thành

Trường THPT Hưng nhân 45 năm xây dựng và trưởng thành, so với lịch sử dân tộc thì chỉ là quãng thời gian không dài nhưng so với cuộc đời của mỗi người thì quả là đáng suy nghĩ.

Trường THPT Hưng Nhân 45 năm xây dựng và trưởng thành

Trường THPT Hưng nhân – trường Cấp 3 Cầu lê trước đây, trong 45 năm xây dựng và trưởng thành có thể nói là một chặng đường gian lan và thử thách, không ngừng không nghỉ, luôn phấn đấu đi lên. Trong quá trình thăng trầm ấy, nhà trường đã kiên trì nỗ lực vượt mọi khó khăn tạo sự chuyển biến để phát triển. Cho đến nay, trường THPT Hưng nhân đã nhiều năm được Hội đồng thi đua khen thưởng Sở GD – ĐT công nhận là trường tiên tiến và tiên tiến xuất sắc, chi bộ nhà trường liên tục nhiều năm đạt danh hiệu tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh.

Đặc biệt, năm 2003 nhà trường được UBND Tỉnh công nhận là cơ quan văn hóa cấp tỉnh. Năm 2004 trường THPT Hưng nhân được chính phủ tặng Huân chương lao động hạng ba. Dưới đây là khái quát sự trưởng thành của nhà trường trên 3 phương diện:

1.Đội ngũ thày cô giáo

2.Cơ sở vật chất

3.Chất lượng giáo dục

Trước hết phải kể đến vị trí và vai trò của cán bộ lãnh đạo nhà trường. Từ 1965 đến nay 7 thế hệ quản lý nối tiếp nhau. Từ thày Hiệu trưởng Cao Văn Cốt, Thày Hoàng Viết Hội, Thày Nguyễn Minh Huân, Thày Lê Miện, Thày Nguyễn Văn Kiếm, Thày Lưu Thế Phương, Thày Trương Công Hội dã gắn liền với quá trình xây dựng và trưởng thành của nhà trường.
Như một sự tiếp nối không ngừng, không nghỉ, mọi thế hệ cán bộ quản lý nay người còn, người đã mất, đều có những đóng góp nhất định, đều tạo nên một nề nếp giảng dạy và học tập như hiện nay. Nhưng lực lượng làm nên truyền thống trong suốt gần nửa thế kỷ qua, cơ bản vẫn là đội ngũ các thày, cô giáo nhiệt tình tâm huyết với nghề nghiệp. Trên 300 lượt giáo viên của nhiều thế hệ đã từng đứng trên bục giảng, hầu hết các thày giáo, cô giáo không tự bằng lòng với vốn kiến thức và kinh nghiệm nghề nghiệp tích lũy được, mà luôn luôn tự học, tự rèn và trăn trở đổi mới đi lên. Đó là điều đáng mừng, đáng khích lệ, vì thế trong sổ vàng truyền thống nhà trường đã có hai đồng chí được nhà nước tặng Huân chương hạng nhất; 7 đồng chí được nhà nước tặng Huân chương hạng nhì và 52 đồng chí được công nhận là giáo viên Giỏi cấp Tỉnh qua các thời kỳ.

Thầy hội đánh hồi trống khai giảng năm học 2010-2011

Trường THPT Hưng nhân hôm nay có một đội ngũ các thày giáo, cô giáo có bề dày kinh nghiệm, trẻ khỏe và nhiệt tình, một tấm lòng yêu nghề mến trẻ đang ra sức tìm tòi nghiên cứu để đổi mới phương pháp giáo dục giúp học sinh học tốt hơn. Với 84 thày cô giáo, CNV của 4 tổ chuyên môn và 1 tổ hành chính luôn nhiệt tình, năng động trong giảng dạy và công tác. Nhiều thày cô giáo trong nhiều năm liên tục được công nhận là giáo viên giỏi cấp Tỉnh, Chiến sĩ thi đua, giáo viên giỏi cấp cơ sở.

Năm học 2009- 2010 có 6 chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, 9 giáo viên Giỏi Tỉnh, 12 giáo viên giỏi cấp trường, 04 tổ đạt lao động xuất sắc, 1 tổ đạt lao động tiên tiến. Về cơ sở vật chất.
Nhìn chung ở nhiều thời điểm nhà trường, cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn thiếu thốn, đời sống của CB – GV có những khó khăn nhất định. Từ lúc nhà trường chỉ nhà tranh, vách đất nơi sơ tán trong chiến tranh phá hoại của dế quốc Mỹ đến khi trở về khu trung tâm với sự đóng góp xây dựng của phụ huynh, học sinh, sự quyết tâm của thày trò cùng nhau đóng gạch xây nhà, được một cơ ngơi 21 phòng học cấp 4 và 3 dãy nhà tập thể của CB – GV. Những năm tiếp theo nhà trường đã từng bước mua sắm thiết bị dạy học đáp ứng nhu cầu tối thiểu việc dạy của thày và học của trò. Ngày nay trường có một cơ sở khang trang, sạch đẹp với 39 phòng học nhà cao tầng, 4 phòng học và 24 phòng ở và làm việc của giáo viên là nhà cấp 4. Nhà trường đã có phòng thư viện, phòng vi tính, phòng truyền thống và phòng họp hội đồng, hàng năm trường tu sửa, mua sắm bàn ghế, sách giáo khoa, trang thiết bị đáp ứng việc dạy và học của Thày và trò theo hướng chuẩn hóa. Có một đội ngũ giáo viên hăng say, nhiệt tình trong chuyên môn, cơ sở vật chất tương xứng đó là hai yếu tố tiên quyết cho quá trình giảng dạy và học tập, để tạo ra chất lượng đào tạo qua mỗi năm học..Kết quả giáo dục 45 năm qua trường THPT Hưng nhân đã có 42 khóa học sinh ra trường, trong đó có 13.385 học sinh tốt nghiệp. Trước mỗi kì thi hết khóa học mỗi học sinh đều được xếp loại về đạo đức; văn hóa. Nhà trường còn có trên 2 ngàn học sinh đỗ vào các trường ĐH, CĐ, THCN. Đó là quá trình đào tạo mang tính toàn diện của nhà trường, trong đó kết quả tốt nghiệp, học sinh đỗ vào các trường ĐH, CĐ, THCN là lời khẳng định hiệu quả giáo dục của nhà trường.

Đặc biệt 5 năm gần đây..Về quy mô giáo dục: số lượng học sinh hằng năm khoảng 1800. Duy trì ổn định 34 em 36 lớp.

2.Đội ngũ cán bộ giáo viên, công nhân viên hàng năm 80 đồng chí.

3.Chất lượng giáo dục:

+ Số học sinh xếp loại văn hóa giỏi: bình quân 2 % và Giỏi và khá: 51,5%

+ Xếp loại đạo đức Khá và Tốt bình quân 95% trở lên, không có học sinh có đạo dức Kém.

+ Số học sinh lên lớp hàng năm đạt bình quân 98,5 %

+ Tỷ lệ tốt nghiệp THPT bình quân 98,6 %

+ Học sinh đỗ ĐH, CĐ, THCN bình quân đạt 30%. Trong đó năm đạt cao nhất 2009-2010 là 73,96% : ĐH: 180 = 34,8%; CĐ: 201 = 38,9 %

+ Học sinh Giỏi xếp thứ 1 đến 4 trong 12 trường bảng B.

+ Học sinh Giỏi TDTT luôn xếp tốp 10/41 trường, đặc biệt 2004, 2005 xếp thứ 3/ 39 trường.

* Danh hiệu thi đua và thành tích khen thưởng trong 5 năm 2005-2010.

-Từ năm 2005-2010, trường THPT Hưng nhân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đó là xây dựng được tập thể sư phạm đoàn kết, chất lượng giáo dục ngày một nâng cao, góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Trường liên tục đạt danh hiệu tiên tiến và tiên tiến xuất sắc.

* Chi bộ đã phát huy vai trò lãnh đạo đối với nhà trường và các tổ chức chính trị, Đảng viên gương mẫu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, liên tục 5 năm liền được Huyện ủy Hưng Hà công nhận là tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh.

* Công đoàn, Nữ công, Đoàn thanh niên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chức năng của tổ chức trong trường học.

– Được UBND Tỉnh công nhận đơn vị Văn hóa cấp Tỉnh.- Được Chính phủ tặng Huân chương lao động hạng Ba.

– Được Chủ tịch UBND Tỉnh công nhận trường chuẩn Quốc gia giai đoạn 2001-2010.
Có được những thành tích trên là sự phấn đấu bền bỉ, nỗ lực của các thế hệ lãnh đạo, các thế hệ thày – trò trường THPT Hưng nhân. Đó là sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự giúp đỡ nhiệt tình của các ngành các cấp ở địa phương, sự quan tâm của hội cha mẹ học sinh của nhân dân địa phương trong 45 năm xây dựng và trưởng thành. 45 năm qua đối với trường THPT Hưng Nhân là một chặng đường gian nan, thử thách, không ngừng không nghỉ, luôn phấn đấu đi lên. Dẫu rằng thành tích giáo dục của nhà trường chưa phải là lớn. Xong tất cả những gì mà nhiều thế hệ thày – trò đã chăm lo vun đắp, dựng xây để có một diện mạo như hôm nay là điều đáng khích lệ. Tin chắc rằng bước tiếp trên chặng đường mới của trường THPT Hưng Nhân sẽ gặt hái được nhiều thành quả rực rỡ hơn, nhà trường sẽ tạo được những thanh âm vang vọng và ngân xa hơn đáp ứng lòng mong mỏi của các bậc phụ huynh và các em học sinh

457 total views, no views today