October 11 2015

The Great Wall of China

The Great Wall of China is the biggest object ever made by humans. It stretches across mountains, deserts and grasslands for over 6,400 kilometres. The ancient Chinese built the wall to keep invaders from the west out of their country. Today tourists from all over the world come and see it.

The Great Wall began as a series of many smaller walls that were not connected with each other. The first sections of the wall were built as early as 600 B.C. As time went on Chinese emperors connected them together to keep Huns, Mongols and other tribes out. Thousands of soldiers, criminals and peasants worked on building the wall. It was finally completed during the Ming dynasty in the 17 thcentury.

The Chinese wall is made of dirt, mud, stone and brick. It is between 5 and 9 metres tall and up to 8 metres wide. A small road runs on the top of the wall. Towers every few hundred metres were built to store military supplies. They served as watch posts and were used to send information. Guards fired cannon balls or used smoke signals to inform other towers of possible invaders. At times up to a million Chinese soldiers guarded the wall. Towards the end of the Middle Ages the great wall lost its military function.
Over the centuries parts of the wall have been damaged by weather, earthquakes and war. The government destroyed some parts of the wall to build new roads or for other construction projects. In the western part of China sandstorms have covered part of the wall. As a result almost half of the wall has disappeared completely, while about 30% is in fairly good condition.

In 2006, the Chinese government started taking action to protect the Great Wall. Today the wall is a World Heritage Site, a symbol of China and a big tourist attraction. The most visited section is a part near Beijing which 6 million tourists go to every year.

The Great Wall of China

Words

ancient = old
B.C. = before the birth of Christ
brick = hard block of baked clay used for building houses
cannonball = heavy iron ball that you fire from a cannon
century =a hundred years
complete = finish
condition = the state that something is in
connect = link
construction = building
damage = destroy
desert = dry land with little or no rain
destroy = break, ruin
disappear = to go away, not to be seen any more
emperor = the man who rules a group of countries
fairly = rather, pretty
government = the people who rule a country
guard = person who defends or protects a building
humans = people
invader = soldiers or an army that enters a country and takes control of it
mud = soft, wet, sticky earth
peasant = poor farmer
possible = something that might happen or exist
protect = guard, defend
section = part of the wall
soldier = a person who fights for his country in a war
store = keep
stretch = go from one place to another
supplies = the things you need for daily life
take action = to do something
tribe = group of people of the same race who have the same language and traditions
World Heritage Site = place, building or object that is very valuable and should not be destroyed

622 total views, 2 views today

January 21 2014

Giới thiệu Lễ nghi học sỹ Nguyễn Thị Lộ

Nguyễn Thị Lộ (1400 -1442), là vợ thứ của danh thần Nguyễn Trãi và là một nữ quan nhà Lê trong lịch sử Việt Nam. Tên tuổi bà từ lâu đã gắn liền với vụ thảm án Lệ Chi Viên xảy ra vào năm Nhâm Tuất (1422), dẫn đến cái chết của vợ chồng bà và cái án tru di tam tộc.

Cuộc đời:

Nguyễn Thị Lộ sinh ra tại làng Hải Hồ (sau đổi là làng Hải Triều, tục gọi làng Hới), tổng Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tân Hưng (nay thuộc xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).

Cha bà là Nguyễn Mỗ, làm nghề thầy thuốc. Nhờ tư chất thông minh, lại được cha cho đi học, nên bà sớm thông hiểu các kinh sách và lại biết làm thơ. Ngoài ra, bà còn nổi tiếng là một người xinh đẹp.

1.1 Gặp gỡ Nguyễn Trãi:

Sau khi cha đi phu bị quân Minh giết chết, bà cùng mẹ tần tảo nuôi dạy các em. Trong một lần lên kinh thành Thăng Long bán chiếu (làng Hới có nghề dệt chiếu nổi tiếng), Nguyễn Thị Lộ đã gặp Nguyễn Trãi, rồi trở thành vợ thứ của vị quan này.

Có nguồn cho rằng Thị Lộ gặp Nguyễn Trãi sau khi ông bị vua Lê Thái Tổ cầm tù và bị thất sủng. Một nguồn khác lại cho rằng cuộc gặp gỡ có thể xảy ra vào năm 1406, lúc Nguyễn Trãi (26 tuổi) đang làm quan nhà Hồ.

Tuy nhiên căn cứ vào trang Thông tin Thái Bình  thì Nguyễn Thị Lộ đã gặp Nguyễn Trãi, trước khi ông vào Tây Sơn tụ nghĩa, và cũng kể từ đó bà đi theo ông suốt trong gần 10 năm của cuộc kháng chiến chống Minh.

Theo Phan Huy Chú thì khi ông (Nguyễn Trãi) lo việc nước, những chiếu thư, từ mệnh (Nguyễn Thị Lộ) đều được dự nhuận sắc.

Sau nhiều năm chịu nhiều hiểm nguy và gian khổ, cuộc khởi nghĩa chống quân ngoại xâm thành công. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, phong Nguyễn Trãi tước Quan Phục hầu và cho theo họ Lê của vua.

Được phong quan chức, nhưng kể từ đó vợ chồng bà phải đối mặt với một hiểm họa khác: những mâu thuẫn lục đục trong nội bộ giới thống trị. Sau thắng lợi một năm (đầu năm 1429), vì hiềm nghi, vua Lê cho bắt giết Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo. Nguyễn Trãi, vì là em họ Nguyên Hãn, cũng bị bắt nhốt một thời gian (1930). Sau, không có chứng cứ buộc tội, ông được tha, nhưng không còn được trọng dụng như trước nữa.

Năm 1433, vua Lê Thái Tổ mất, thái tử Nguyên Long lên nối ngôi, tức là Lê Thái Tông. Năm 1437, Nguyễn Trãi được chỉ định cùng với Lương Đăng thẩm định nhã nhạc. Mâu thuẫn nảy sinh giữa hai người, Nguyễn Trãi từ chối việc san định.

Năm 1438, thấy nhà vua còn nhỏ, thích chơi hơn học, Tư Đồ Lê Sát đem chuyện ra bàn. Sau khi nghe Thái bảo Ngô Từ giới thiệu, Lê Sát cho đưa Nguyễn Thị Lộ vào cung làm Lễ nghi học sĩ để lo việc học tập của vua và của các cung nữ (1438).

Ở cương vị mới này, bà đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được sử thần nhà Lê là Vũ Quỳnh khen là: Thị Lộ đã cảm hóa được Lê Thái Tông, thuyết phục vua chăm chỉ đèn sách, lại giúp vua nhiều ý kiến để sửa trị nước. Cậu bé bất trị nay đổi thành một “minh quân” khác hẳn trước

Năm 1400, thì Nguyễn Trãi xin về nghỉ ở Côn Sơn, chỉ thỉnh thoảng mới vâng mệnh vào chầu.

2.2 Thảm án Lệ Chi Viên:

Vua Thái Tông ham sắc, có nhiều vợ, chỉ trong 2 năm sinh liền 4 hoàng tử. Các bà vợ tranh chấp ngôi thái tử cho con mình nên trong triều xảy ra xung đột. Vua truất Hoàng hậu Dương Thị Bí và ngôi thái tử của con bà là Lê Nghi Dân lên 2 tuổi, lập Nguyễn Thị Anh làm hoàng hậu và cho con của bà này là Lê Bang Cơ chưa đầy 1 tuổi làm thái tử. Cùng lúc đó một bà vợ khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao lại sắp sinh, Nguyễn Thị Anh sợ đến lượt mẹ con mình bị phế nên tìm cách hại bà Ngọc Dao. Nguyễn Trãi cùng Nguyễn Thị Lộ tìm cách cứu bà Ngọc Dao đem nuôi giấu, sau bà sinh được hoàng tử Tư Thành (tức vua Lê Thánh Tông sau này).

Ngày 4 tháng 8 năm Nhâm Tuất (27 tháng 7 năm 1442), vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt binh ở thành Chí Linh (Hải Dương). Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của mình.

Rời Côn Sơn để về lại Thăng Long, ngày 4 tháng 8 âm lịch nhà vua và đoàn tùy tùng đến trại vải (Lệ Chi Viên nay là Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh). Theo sử cũ, thì nhà vua đã thức đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng hà. Liền sau đó, Nguyễn Thị Lộ bị triều đình do hoàng hậu Nguyễn Thị Anh cầm đầu sai người bắt giam và tra khảo.

Văn thần Phan Huy Chú chép: Kịp khi kết tội, lâm hình. Thị Lộ chạy gieo mình xuống nước. Nhưng theo Nguyễn Cẩm Xuyên, thì vì chịu không nổi cực hình, Nguyễn Thị Lộ phải khai nhận. Án được thi hành ngay: Nguyễn Thị Lộ bị bỏ vào cũi sắt dìm xuống sông cho chết.

Bị kết tội đồng chủ mưu giết vua, Nguyễn Trãi bị kết án tru di tam tộc. Ông và cả ba họ ông bị xử chém vào ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (19 tháng 9 năm 1442).

Mời bạn xem thêm tại Wikipedia: click đây

375 total views, 2 views today

January 21 2014

Giới thiệu về Tam nguyên – Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ

Phạm Đôn Lễ (1457-1531) đỗ Trạng nguyên năm 1481 đời vua Lê Thánh Tông. Ông cũng đỗ đầu cả kỳ thi Hương, thi Hội nên được coi là vị Tam nguyên đầu tiên của lịch sử khoa bảng Việt Nam. Ông làm quan đến Tả thị lang, Thượng thư.
Đền thờ Phạm Đôn Lễ ở thôn Hải Triều, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Nguồn ảnh: ditichlichsuvanhoa.com.
NGHIÊN CỨU CÁCH DỆT RỒI DẠY CHO DÂN
Năm 1488, Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ vừa qua tuổi 31, được vua Lê cử đi sứ nhà Minh. Trên đường đi, đoàn qua thành phố Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây, thấy phong cảnh hữu tình nên dừng chân nghỉ ngơi, thưởng lãm. Chiều hôm ấy, Trạng Nguyên Đôn Lễ đi dạo chơi thành Quế Lâm, tình cờ thấy người dân địa phương làm nghề dệt chiếu như ở quê ông nhưng phương pháp dệt không hoàn toàn giống. Ông tò mò quan sát thì thấy bàn dệt của họ để nằm, có ngựa đỡ, khác với ở quê nhà là bàn dệt đứng không có ngựa đỡ. Với cách dệt này, chiếu hẹp, bền và nhanh hơn. Thế là ông quyết tâm tìm cách đưa phương pháp dệt chiếu này về nước.
Sau khi đến Yên Kinh làm xong việc vua giao, đoàn trở về ngang Quế Lâm, Trạng nguyên Đôn Lễ bỏ tiền mua bàn dệt chiếu mang về nước. Ông đưa bàn dệt về làng Hới (làng Hải Triều, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, Thái Bình) quê ông, gọi phường dệt đến tháo ra nghiên cứu và tập dệt thử. Phường dệt kêu khó quá. Thế là ông đích thân ngồi vào bàn dệt, với tư chất thông minh, ông nhanh chóng nắm được quy trình vận hành và gọi phường dệt lại để chỉ dạy. Nhìn những chiếc chiếu mới dệt xong, bấy giờ cai cũng tấm tắc khen.
Từ đó dân làng Hới dệt chiếu theo phương pháp mới. Chiếu làng Hới chẳng mấy chốc nổi tiếng khắp vùng. Trạng nguyên Đôn Lễ cho thợ đóng thêm nhiều bàn dệt mới truyền nghề dạy cho dân các làng miền duyên hải trấn Sơn Nam hạ (nay là các tỉnh Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định).
Ngoài ra, Trạng nguyên Đôn Lễ còn hướng dẫn dân cách trồng cói và chăm sóc để luôn có nguồn nguyên liệu dồi dào sản xuất chiếu. Đời sống người dân ngày càng sung túc. Từ đó, người dân quý mến gọi ông là Trạng Chiếu.
VỊ TAM NGUYÊN ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ
Phạm Đôn Lễ là người đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam đỗ Tam nguyên, hiện bia đá dựng tại Văn miếu – Quốc tử giám Hà Nội vẫn còn lưu giữ kỳ tích này.
Báo Hưng Yên online trích dẫn cuốn Tóm tắt tiểu sử Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ do dòng họ Phạm ở thôn Mỹ Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, sưu tầm và biên soạn năm Ất Hợi 1995 cho biết hồi nhỏ Trạng nguyên Đôn Lễ sống rất cơ cực. Mẹ của ông bán nước ven làng, còn cha làm nghề chài lưới tại bến đò Cà ven sông Luộc. Ngay khi ông còn rất nhỏ thì người cha đã qua đời.
Năm lên 3 tuổi, Phạm Đôn Lễ bị lạc trong một lần đi chơi ven sông. Một chủ thuyền buôn (sử sách ghi lại là người xã Thanh Nhã, huyện Kim Hoa, tức Sóc Sơn, Hà Nội ngày nay) khi đi qua đây thấy đứa trẻ khôi ngô, tuấn tú nên đã đưa về nuôi và cho ăn học. Phạm Đôn Lễ càng lớn càng tỏ ra thông minh, học một biết mười. Năm 1481 niêu hiệu Hồng Đức 12, vua Lê Thánh Tông mở khoa thi kén chọn nhân tài cho đất nước, Phạm Đôn Lễ dự thi Hội, thi Đình và đều đỗ thủ khoa. Trước đó ông cũng đỗ đầu kỳ thi Hương. Đó thật sự là một sự kiện chưa từng có trước đó.
Phạm Đôn Lễ được vua Thánh Tông bổ nhiệm làm Hàn lâm viện thừa chí. Ông được vua ban áo mão, ngựa và lộng che về quê vinh quy bái tổ. Lúc này người cha nuôi mới kể sự thật về nguồn gốc lai lịch của ông. Phạm Đôn Lễ trở về làng Hải Triều tìm mẹ. Người mẹ gặp con mà cứ ngõ như chuyện cổ tích. Từ đó Đôn Lễ đón mẹ về ở chung một nhà.
DẠY HỌC ĐẾN CUỐI ĐỜI
Phạm Đôn Lễ còn được biết đến là vị quan rất mực thương dân, tính lại cương trực, ghét bọn nịnh thần. Thời vua Lê Uy Mục (1505-1516), bọn tham quan bắt đầu nổi lên, tìm cách gièm pha hãm hại các bậc công thần. Phạm Đôn Lễ là đối tượng của chúng. Chuyện kể rằng một năm kia đê cửa sông Luộc bị vỡ, Phạm Đôn Lễ cho người xây kè chống sạt lở cửa sông. Trong thời gian này không may công chúa bị ốm nặng. Bọn gian thần đã tấu với vua công chúa bị ốm là do Phạm Đôn Lễ đào đắp đê cửa sông Luộc đã phạm đến long mạch. Vua nghe theo bèn khép tội Phạm Đôn Lễ.
Hay chuyện, Phạm Đôn Lễ xin từ quan, đưa vợ và bốn người con trai đến nhiều địa phương vừa dạy chữ vừa truyền nghề dệt chiếu cho người dân làm ăn. Trong lần về thôn Mỹ Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, ông quyết định ở lại đây mở trường dạy học.
Năm 1531 ông qua đời. Để tỏ lòng tôn kính, tại khu đất Đồng Cời thuộc thôn Mỹ Xá, dân làng đã xây khu lăng mộ Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ khá quy mô. Ngoài phần mộ chính của ông còn có các mộ phần của bốn người con trai. Hàng năm, nhân dân lấy ngày 6 tháng giêng âm lịch, là ngày sinh nhật Phạm Đôn Lễ, làm ngày đại lễ nhằm ghi nhớ công ơn dạy dân nghề dệt chiếu. Vào ngày này dân làng mở hội, tế lễ rất linh đình, đồng thời tổ chức nhiều trò chơi dân gian, biểu diễn văn nghệ…
Tại làng Hới, quê nhà giáo Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ nay vẫn con ngôi đền mà người dân thường gọi Đền Quan trạng. Đền có diện tích 660m2 gồm năm gian ngoài, ba gian trong thờ tượng Trạng nguyên. Dân làng Hải Triều đã có bài thơ chữ Hán chạm trên bia đá ca ngợi Trạng Nguyên, được Viện Hán Nôm dịch ra như sau:
Nước sông mênh mang nguồn dòng dài
Nhà từ đường rực rõ, hương hoa ngát thơm
Vị thần giáng xuống ánh sáng rực rỡ
Mây sáng phiêu diêu, xa giá lượn quạnh
Giáng vẻ ung dung, vang khắp mùa xuân
Hát vang bài ca yên vui, điển chương yên lành
Phúc thần dạt dào, nhân kiệt địa linh
Từng bước đi đưa hương, báo đáp thần linh
Đời đời thờ thần, mãi mãi hoà bình.

425 total views, 2 views today

December 16 2013

Bài thơ đất Hưng Hà – Thái Bình

Huyện Hưng Hà


Chẳng nơi nào đẹp bằng nơi ta sống
Chẳng nơi nào tuyệt vời hơn nơi mình đã sinh ra
Con đường 39 chạy qua
Mảnh đất huyền thoại Hưng hà quê tôi
Thái Phương nghề dệt lâu đời
Làng Mẹo tỷ phú bao người nổi danh
Chí Hòa nơi ấy đất lành
Cò về bay đậu trên cành xôn xao
Tam Đường, Tiến Đức gò cao
Nhà Trần phát tích, tự hào chiến công
Ba lần thắng giặc Nguyên Mông
Giữ yên bờ cõi sử hồng còn ghi
Đông Đô có rượu Đô Kỳ
Giao lưu bè bạn lắm khi say mèm
Hồng Lĩnh anh dũng trung kiên
Ngày xưa phá bốt Cô Tiên chống càn
Tấp nập thị trấn Hưng Nhân
Nghề bún thôn Mẽ xa gần tiếng tăm
Ngọt ngon long nhãn Hồng An
Có nhà thờ Bác đến thăm Thái bình
Xây nông thôn mới Hồng Minh
Tịnh Xuyên câu mới nối tình 2 quê
Tháng tư nhớ hội làng Tè
Phúc Khánh, phố Lẻ người về hội đông
Danh nhân Văn Cẩm, Kỳ Đồng
Tuy còn ít tuổi nặng lòng nước non
Thăm nhà cụ Lê Quý Đôn
Độc Lập, làng cổ bảo tồn tinh hoa
Làng mộc Mỹ giạc Tân Hòa
Làng Me bánh tráng bánh đa gia truyền
Tân La cổ kính linh thiêng
Xưa nhiều lò gạch chỉ riêng Đoan Hùng
Đặc sản nổi tiếng nhất vùng
Thịt chuột nơi đó Kim Trung làm giàu
Chiếu Hới nổi tiếng từ lâu
Tân Lễ nhộn nhịp bên cầu Triều Dương
Văn Quan truyền thống làm hương
Nay nước Duyên Hải trên đường thành công
Việt Yên chợ mới thêm đông
Điệp Nông bát ngát cánh đồng ngô khoai
Món ngon trên đất Minh Khai
Cuốn tôm làng Nấp những ai đã từng
Địa hình lòng chảo Thái Hưng
Mùa mưa nước ngập lội bùn gian nan
Chiếu chèo vang vọng Chi Lăng
Trò chơi pháo đất hội làng rền vang
Hội làm vườn xã Văn Lang
Phát triển gia trại khang trang xanh rờn
Nghề mới dệt lưới Nilon
Tăng thêm thu nhập Bắc Sơn quê mình
Xã mới thành lập Hòa Bình
Đổi mới phát triển hành trình chông gai
Thanh niên năng động Kiều Trai
Minh Tân chăm chỉ gái trai cần cù
Liên Hiệp, làng Nại, thôn Ngừ
Lăng thờ Quốc mẫu, Thái sư nhà Trần
Cây Sanh Lưu Xá bao năm
Nghề mộc nhộn nhịp, Canh Tân làm giàu
Tan trường áo trắng một màu
Hùng Dũng, cống Rút chen nhau đi về
Hẹn hò những buổi trưa hè
Hưng hà thị trấn, ăn chè ăn kem
Đền Buộm cổ kính uy nghiêm
Tân Tiến mở hội đến xem đông người
Hòa Tiến cây cối tốt tươi
Luân canh bốn vụ, tiếng cười râm ran
Tây Đô rổ rá em đan
Mĩ miều Thịnh vượng tên làng thật hay (Mĩ thịnh )
Cộng Hòa thay đổi hàng ngày
Nhân dân lao động hăng say trên đồng
Ngưu tất Thống nhất hay trồng
Cây dược liệu quý, vụ đông vào mùa
Hà Lang làng cũ ngày xưa
Dân giàu Dân chủ thi đua nhà nhà
Quê em làng lúa làng hoa
Quanh năm vất vả Minh Hòa là đây
Miền quê tình nghĩa đong đầy
Địa linh nhân kiệt, đắm say chan hòa
Có là con mẹ con cha
Thì sinh ở đất Duyên Hà, Thần Khê
Mai Long Bui Thuy Tai Le Tien Tuệ Thứ


Đóng góp – Vương Là Vua

518 total views, 2 views today